Monthly Archives: February 2013

10 điều phụ nữ nên biết về vùng kín

Muốn phòng bệnh phụ khoa hoặc bệnh liên quan đến giới tính, tình dục một cách hiệu quả, trước hết chị em phải hiểu rõ về vùng kín.

1. Trong khi nam giới đi tiểu và xuất tinh đều từ lỗ sáo ở đầu dương vật thì ở nữ giới hai đường này riêng biết – đi tiểu qua lỗ tiểu chứ không phải bằng lỗ âm đạo.

2. Âm đạo không kết nối lên bụng của bạn. Nếu bạn dùng tampon và chẳng may để nó tụt sâu vào trong thì cũng đừng quá lo lắng chuyện nó “chui” vào trong bụng. Bạn có thể tự lấy nó ra bằng cách ngồi xổm và kéo nó trở ra.

3. Sự thật là âm đạo của bạn có thể bị lồi ra bên ngoài (còn gọi là sa âm đạo). Nhưng tình trạng này không kinh khủng như bạn tưởng tượng, nó sẽ xuất hiện khi bạn bước vào tuổi già hoặc khi quan hệ quá nhiều lần. Tuy nhiên, chứng bệnh này có thể ngăn ngừa bằng cách tập co thắt âm đạo và có thể chữa khỏi nhờ vào y học hiện đại.

4. Bạn có thể nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục ngay cả khi đối tác cùa bạn có sử dụng bao cao su. Da “vùng kín” vẫn có thể chạm vào vùng da nhiễm trùng của bìu và khiến bạn mắc bệnh.

10-dieu-phu-nu-nen-biet-ve-vung-kin

Muốn phòng bệnh phụ khoa hoặc bệnh liên quan đến giới tính, tình dục, trước hết chị em phải hiểu rõ về vùng kín. Ảnh minh họa

5. Các cơ bên trong âm đạo cũng giống như bắp tay của chúng ta vậy, nếu bạn không dùng tới nó thì khi lớn tuổi, nó sẽ chẳng còn tác dụng gì và sẽ bị nhão. Tuy nhiên nếu tập các bài tập co thắt cơ thường xuyên thì tình trạng này sẽ được ngăn chặn.

6. Cấu tạo âm đạo là giống nhau nhưng hình dáng âm hộ của mỗi người phụ nữ lại khác nhau.

7. Không phải tất cả phụ nữ đều tìm thấy được điểm G nhạy cảm của mình. Nếu bạn không thể tìm thấy nó, đừng lo lắng vì có thể bạn còn có những điểm khác nữa và bạn không phải là người duy nhất như vậy.

8. Bạn không cần cố gắng tạo mùi thơm cho vùng kín. Mọi loại thuốc xịt, thuốc rửa có mùi thơm đều chứa hóa chất có thể gây viêm nhiễm và không tốt cho “vùng kín”. Âm đạo có mùi đặc trưng và điều đó không có nghĩa là bạn có vấn đề về sức khỏe.

9. Bạn có thể xì hơi bằng âm đạo trong khi quan hệ tình dục, đừng lấy làm xấu hổ vì đấy là chuyện bình thường mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng sẽ trải qua một vài lần trong đời.

10. Âm đạo giãn ra một chút nếu bạn sinh em bé theo kiểu tự nhiên và điều này có thể khiến bạn cảm thấy mất tự tin khi “gần gũi” chồng. Bài tập Kegel thực sự có tác dụng phục hồi sự đàn hồi và giúp cơ âm đạo tránh bị nhão.

mề đay

Mề đay là gì ?

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. Mề đay có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. Mề đay có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

mề đayVị trí thường nổi Mề đay là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là Mề đay nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại Mề đay này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.

Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị “đổ thừa” nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, “lành nhất” cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi – họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Co giật ở trẻ em

Ở trẻ mới sinh, động kinh biểu hiện bằng những co giật sơ sinh lành tính, thường gặp ở bé trai bắt đầu từ ngày 2 tới ngày thứ 21. Cần hỏi bác sĩ để phân biệt với cơn do rối loạn chuyển hóa, viêm màng não sơ sinh, nhiễm virus…

Động kinh ở trẻ sơ sinh thường biểu hiện dưới dạng giật cơ có tính chất cục bộ, sau đó có thể lan tỏa từ một bên sang bên đối diện.

Có thể có nhiều cơn dẫn tới động kinh liên tục. Tiến triển nói chung tốt. Một vài trẻ ở khoảng 2-6 tuần tuổi có thể không còn cơn lâm sàng, nhưng điện não đồ vẫn chưa hoàn toàn ổn định.

Tuy nhiên, cũng cần cảnh giác đối với các trường hợp co giật sơ sinh kéo dài, có tính định hình (khu trú tổn thương) và toàn bộ lúc thu phát. Cần theo dõi xem có phải do sinh khó, phẫu thuật, viêm màng não, rối loạn, dị dạng mạch máu não.

Ở trẻ đang bú và trẻ nhỏ

– Co giật do sốt cao: Là những cơn co giật toàn bộ xảy ra khi bệnh nhân ở tình trạng sốt cao. Cần phân định co giật do sốt cao và động kinh. Nhiệt độ gây co giật thường là trên 39 độ C và thường gặp ở trẻ gái, nhất là trẻ gái dưới 1 tuổi. Co giật do sốt cao là điều kiện thuận lợi để phát triển thành động kinh, nhất là với những trường hợp co giật nhiều lần và kéo dài trong ngày.

– Hội chứng West: Thường gặp ở trẻ trai khoảng 7 tháng đến 1 tuổi với 3 triệu chứng: co thắt, rối loạn phát triển tâm lý vận động và có hình ảnh loạn nhịp cao điện thế ở điện não đồ. Các cơ co thắt, thể hiện ở việc đầu bệnh nhi cúi gập mạnh, hai tay có cử động vái chào. Cơn thường rất nhanh (1-15 giây), liên tiếp, có thể tới 30 cơn.

– Cơn mất trương lực – vắng ý thức: Thường gặp ở trẻ trai 5-8 tuổi và quá nửa là có liên quan tới bệnh não, còn gọi là hội chứng Lennox-Gastaut. Triệu chứng: các cơn động kinh trương lực, vắng ý thức, các nhịp sóng chậm ở điện não đồ và rối loạn tâm lý. Các cơn trương lực có thể biểu hiện ở dạng kín đáo; các động tác đảo nhãn cầu và biến đổi nhịp thở thường xảy ra lúc trẻ đang ngủ. Có thể có cứng chi, động tác tự động, giật cơ mi, cơ quanh miệng đồng thời với cơn vắng: bệnh nhi gục đầu, há miệng hoặc có khi còn chảy dãi.

Trẻ có thể chậm phát triển tâm lý vận động, rối loạn tính tình, ở trẻ lớn hơn còn có rối loạn chú ý (học kém, khó học tập, khó tiếp thu…).

Ở tuổi đi học (từ tiểu học tới năm đầu của trung học phổ thông)

– Động kinh cơn vắng: Thường xảy ra ở trước tuổi dậy thì, ở trẻ gái (70%). Cơn khởi đầu và kết thúc đột ngột, có rối loạn ý thức, cơn nhanh chừng 4-15 giây, sau đó bệnh nhi tỉnh dậy và trở lại bình thường. Biểu hiện chung của cơn vắng là mất nhận thức và mất phản ứng, đồng thời ngưng mọi hoạt động…

– Động kinh cục bộ: Động kinh cục bộ lành tính chiếm tỷ lệ 40-60% các loại động kinh ở trẻ em; thường có cơn đầu tiên vào khoảng 6-10 tuổi. Có thể có hiện tượng thiếu sót vận động sau cơn, song chỉ tồn tại trong vài phút; không có suy giảm trí tuệ.

 Động kinh toàn bộ: Là cơn động kinh điển hình với các tính chất: đột quỵ (ngay lập tức, đột ngột, không chuẩn bị…), định hình (co giật theo hình thái vận động), tái phát, rối loạn ý thức, thời gian cơn… Cần chú ý tới sang chấn khi mới sinh ra, viêm nhiễm, áp-xe não, bệnh não trẻ em.

dongkinh

Chẩn đoán động kinh ở trẻ em phải dựa vào việc thăm khám, kiểm chứng hoặc đánh giá cơn và đo điện não đồ. Cần phải có ý kiến đánh giá của bác sĩ chuyên khoa thần kinh – tâm thần. Tất cả các trường hợp chẩn đoán là động kinh đều phải được điều trị kịp thời…

 

Việc phòng bệnh động kinh ở trẻ em cần được chú ý ngay từ khi bà mẹ mang thai, thực hiện việc khám thai định kỳ và tiêm chủng cho trẻ qua các lứa tuổi.

đánh hơi

Nguyên nhân gây đánh hơi là gì?

Đánh hơi hay còn gọi là đánh rắm là hoạt động đẩy hơi trong ruột qua hậu môn. Có 2 nguồn gốc tạo nên khí trong ống tiêu hoá: nuốt khí trời và do vi khuần thường trú trong ruột, chủ yếu ở đại tràng sản xuất ra. Nuốt không khí hiếm khi gây nên đầy hơi quá mức. Nguyên nhân đầy hơi thường gặp là sự tạo khí quá mức của vi khuẩn đường ruột. Các vi khuẩn sản xuất ra khí (hy-drô và/ hoặc mê-tan) trong khi tiêu hoá thức ăn, chủ yếu là đường và polysaccharides (như tinh bột, cellulose) mà không được tiêu hoá trong quá trình di chuyển qua ruột non. Các loại đường khó tiêu hoá và kém hấp thu là lactose, sorbitol, fructose. Lactose là đường trong sữa. Thiếu enzyme lactase lót trong ruột (là đặc điểm di truyền) gây nên kém tiêu hoá. Lactase rất quan trọng vì nó sẽ cắt lactose ra các thành phần nhỏ hơn để có thể hấp thu được. Sorbitol thường được sử dụng làm chất ngọt cho những thức ăn ít calorie. Fructose thường được sử dụng làm chất ngọt trong tất cả các dạng kẹo và thức uống.

đánh hơiTinh bột là nguồn tạo khí trong ruột khác thường gặp. Tinh bột là polysacchrides được sản xuất từ thực vật và cấu tạo từ đường chuỗi dài. Các nguồn tinh bột rất đa dạng, thường gặp là lúa mì, lúa mạch, khoai tây, bắp và lúa gạo. Lúa gạo là loại tinh bột dễ hấp thu nhất và một số ít tinh bột từ gạo không được hấp thu sẽ đến tại đại tràng và gặp các vi khuẩn tại đây. Vì thế ăn cơm (gạo) tạo ra một ít hơi. Ngược lại, các tinh bột như lúa mì, lúa mạch, khoai tây và ít phổ biến hơn là bắp đều có một lượng khá lớn đến đại tràng và gặp vi khuẩn. Do đó, các loại tinh bột này tạo ra trong ruột một lượng hơi đáng kể. Nên ăn những thức ăn này dễ bị đánh rắm.

Tinh bột trong hạt gạo toàn phần cho ra nhiều hơi hơn gạo tinh chế. Do đó, sau khi ăn thức ăn làm từ bột lúa mì toàn phần sẽ hình thành nhiều hơi hơn ăn thức ăn làm từ bột lúa mì tinh chế. Có sự khác biệt này là do sự hiện diện của chất xơ trong gạo toàn phần làm chậm sự tiêu hóa tinh bột khi di chuyển trong ruột non. Hầu hết những chất xơ ấy được loại ra trong quá trình đi từ gạo toàn phần đến gạo tinh chất. Cuối cùng, một số trái cây và rau quả nhất định như cải bắp cũng chứa tinh bột tiêu hoá kém sẽ đến đại tràng và hình thành ra khí. Hầu hết trái cây và rau quả có chứa cellulose, một dạng pholysaccharide khác không thể tiêu hoá được khi đi qua ruột non. Tuy nhiên, không giống với đường và các loại tinh bột, cellulose chỉ được vi khuẩn đại tràng sử dụng rất chậm. Bởi vậy, khí tạo thành sau khi ăn rau và trái cây không nhiều trừ khi loại rau và trái cây đó cũng có chứa loại polysaccharides khác ngoài cellulose.

Một lượng khí nhỏ luôn được nuốt vào và vi khuẩn không ngừng sản xuất ra khí. Sự co cơ ruột bình thường sẽ tống hơi ra khỏi ruột và tạo nên đánh hơi. Đánh hơi ngăn khí tích tụ lại trong ruột. Tuy nhiên, có hai cách khác đưa khí ra khỏi ruột. Trước hết, khí có thể đuợc hấp thu trong quá trình di chuyển trong ruột vào máu. Khí sau đó được vào máu và cuối cùng thải vào hơi thở. Thứ đến, khí có thể được loại bỏ và được vài loại vi khuẩn khác trong ruột sử dụng. Thực tế là phần lớn khí được vi khuẩn tạo thành trong ruột lại được loại vi khuẩn khác trong ruột loại ra khỏi.

 

Theo BSGĐ

Nguyên nhân gây nên ợ hơi là gì?

Khả năng ợ hơi có ở tất cả mọi người trên toàn cầu. Ợ hơi hay còn gọi là trớ là một hoạt động tống xuất hơi ra khỏi dạ dày qua đường miệng. Ợ hơi bình thường do dạ dày căng lên vì nuốt không khí. Dạ dày căng lên gây khó chịu vùng bụng và ợ hơi tống khí ra ngoài làm giảm khó chịu. Nguyên nhân gây nuốt lượng lớn không khí thường gặp (chứng nuốt hơi) là nuốt chửng hay uống quá nhanh, lo lắng, thức uống có ga. ‘Trớ’ ở trẻ sơ sinh là hoạt động rất cần thiết trong khi bú sữa hay bú bình để tống bớt khí nuốt phải trong thức uống nước hay sữa ra khỏi dạ dày.

o_hoiKhông phải chỉ có lượng khí dư trong dạ dày gây nên ợ hơi. Đối với nhiều người, ợ hơi trở nên thói quen và không phản ánh lượng hơi trong dạ dày của mình. Đối với một số người khác, ợ hơi là một phản ứng trước bất kỳ khó chịu nào ở bụng mà không phải chỉ do tăng lượng khí.

Ai cũng biết rằng khi có khó chịu nhẹ ở bụng thì ợ hơi sẽ làm dễ chịu. Phản xạ này do khi tăng lượng khí trong dạ dày thường là nguyên nhân của khó chịu nhẹ ở bụng. Kết quả là người này ợ hơi bất cứ khi nào có cảm giác khó chịu ở bụng – do bất cứ nguyên nhân nào.

Nếu nguyên nhân gây ra khó chịu không phải là tăng lượng khí thì ợ hơi không làm dễ chịu. Khi này, ợ hơi được coi như là một dấu hiệu của bất thường nào đó trong bụng và cần phải tìm ra nguyên nhân. Tuy nhiên ợ hơi tự nó không giúp bác sĩ xác định được rối loạn vì ợ hơi có thể xuất hiện hầu như ở bất kỳ bệnh lý hay tình trạng của bụng gây nên khó chịu.

Nguyên nhân gây nên chướng hơi là gì?

o chuaKhi nói về đầy hơi thì điều quan trọng là phân biệt chướng hơi  và chướng bụng. Chướng hơi là cảm nhận chủ quan (cảm giác) rằng bụng lớn hơn bình thường. Do vậy, chướng hơi là một triệu chứng gần giống với triệu chứng khó chịu. Ngược lại, chướng bụng là kết quả xác định khách quan (khám lâm sàng) cho thấy bụng thật sự lớn hơn bình thường. Chướng bụng có thể xác định bằng cách quan sát như mặc quần áo chật hay nhìn xuống dạ dày và thấy lớn hơn bình thường một cách rõ ràng. Trong một số trường hợp cá biệt, chướng hơi có thể đại diện cho dạng chướng bụng vì thực tế bụng không lớn lên (bằng cách đi và quan sát) cho đến khi tăng thể tích lên một lít Anh. (1.135 l). Tuy nhiên, chướng hơi không thể biểu hiện chính xác mức độ chướng bụng.

Chướng bụng tăng bằng ba cách. Các nguyên nhân gây ra là tăng lượng khí, dịch hay mô trong bụng. Các bệnh lý hay tình trạng làm tăng bất kỳ một trong các yếu tố cũng rất khác nhau. Do đó, điều quan trọng là xác định yếu tố nào trong ba yếu tố trên gây nên chướng bụng.

Có hai dạng chướng bụng:liên tục và từng cơn. Chướng bụng liên tục có tể do phì đại các cơ quan bên trong ổ bụng, khối u trong ổ bụng, ứ dịch quanh các cơ quan trong ổ bụng (ascites), hay chỉ đơn thuần là béo phì. Chướng bụng từng cơn thường do những đợt tích tụ khí hoặc dịch trong dạ dày, ruột non, hoặc đại tràng.

Triệu chứng chóng mặt là gì?

Chóng mặt là một ảo giác, bệnh nhân cảm thấy chung quanh hoặc bản thân xoay tròn; khi nặng thường kèm theo nôn mửa và người bệnh có thể ngã khi đi. Đây là triệu chứng thường gặp của các bệnh tai trong và thần kinh trung ương.

chong-mat

Chóng mặt là sự rối loạn việc giữ thăng bằng cho cơ thể trong  không gian. Cơ thể chúng ta được giữ thăng bằng nhờ các hệ thống: tai trong ghi nhận chuyển động lên xuống, qua lại của đầu; mắt phát hiện các chuyển động của cơ thể trong không gian; da lòng bàn chân ghi nhận áp lực tiếp xúc của cơ thể với mặt đất; các cơ, khớp xương ghi nhận chuyển động các chi và thân mình. Hệ thần kinh trung ương phối hợp tất cả các thông tin trên và cho chúng ta cảm giác về vị trí của mình trong không gian.

Triệu chứng chóng mặt xảy ra khi thần kinh trung ương nhận tín hiệu không đồng bộ của năm hệ thống trên. Thí dụ như bạn đang ở trên máy bay trong cơn bão, máy bay bị nhồi lên nhồi xuống trong khi mắt bạn nhìn quang cảnh trong máy bay nhưng không nhận ra có sự di chuyển nào, gây cảm giác chóng mặt. Hoặc bạn ngồi trong xe hơi đang di chuyển và đọc sách, khi đó hệ thống tai trong nhận biết có sự di chuyển nhưng mắt lại nhìn thấy trang sách cố định và sau một lúc, bạn sẽ có cảm giác chóng mặt.