Category Archives: Ung Thư Gan

Điều trị Ung thư gan

Điều trị ung thư gan gặp nhiều thách thức so với những loại ung thư khác vì ngoài căn bệnh, gan của nhiều bệnh nhân đã bị thiệt hại do viêm gan kinh niên gây đến xơ gan hoặc suy nhược gan. Điều trị cho bệnh ung thư gan mà lại không chú ý đến tình trạng bấp bênh của bộ gan có thể khiến bệnh nhân chết sớm hơn.Điều trị Ung thư gan

Nhiều bệnh nhân có bộ gan yếu đến nỗi họ có nhiều nguy cơ chết vì hư gan hơn là chết vì có ung thư. Cho nên mỗi bệnh nhân, những lợi ích của các cách trị liệu phải được so sánh và cân bằng với nguy cơ hư gan và cách tình trạng ấy có thể ảnh hưởng đời sống của họ.

Tại trường đại học Stanford, một phương hướng mới đã được chọn để cho những bệnh nhân nào có u trong gan có thể được khám xét bởi một nhóm chuyên gia tại Trung Tâm Kỷ Luật Gan/Ban Bướu để bàn cách điều trị u và những căn bệnh gan hoặc viêm gan. Những cách trị liệu mới cũng được khám xét. Tất cả các bệnh nhân được điều trị sẽ được theo dõi lâu dài và được ghi tên vào hệ thống đăng ký điện tử của trường Stanford.

Điều trị bằng giải phẫu

Lúc cục u vẫn còn nhỏ hoặc cho răng có thể cắt bỏ được, và tình trạng gan của bệnh nhân có đủ năng lực để trải qua cuộc phẫu thuật, thì cách giải phẫu để cắt bỏ là cách hữu ích nhất để cho bệnh nhân sống lâu dài. Sự cải tiến trong ngành giải phẫu và cách điều khiển thuốc mê đã tăng tỷ lệ sống sót và hạ nguy cơ thiệt mạng trong thời gian giải phẫu xuống còn ít hơn 2-5% dưới sự điều trị của bác sĩ có kinh nghiệm, và đa số bệnh nhân có thể dời bệnh viện sau 5 ngày.

Tuy rằng cục u đã được cắt bỏ hoàn toàn, bệnh nhân vẫn có nguy cơ bị tái phát, và họ luôn luôn cần phải được kiểm tra kỹ lưỡng, nhất là trong năm đầu tiên, lúc nguy cơ tái phát bệnh được cao nhất.

Điều trị ngoài cách giải phẫu

Những bệnh nhân nào không có đủ điều kiện để được cắt bỏ u vì lý do sức khỏe hoặc cơ thể, một số cách điều trị khác, tuy ít hiệu lực, đang được có sẵn hoặc đang được nghiên cứu để tìm cách kiềm chế căn bệnh lâu dài và với mục đích gìn giữ lối sống bình thường của bệnh nhân. Sự điều trị cho những bênh nhân này phải tùy theo tình trạng của bệnh nhân, tình trạng của gan, và mức phát triển của căn bệnh.

Dùng hóa trị liệu là liệu pháp thông thường nhưng có hiệu lực thấp thường không thể kéo dài đời sống cho bệnh nhân. Ung thư gan là u chứa đựng nhiều mạch máu thường được tiếp tế bởi những nhánh của đường động mạch trong gan. Tài năng của chuyên gia can thiệp bằng tia X để đi thông qua những đường mạch này vã đưa ông thuốc chính xác đến những nhánh này cung cấp cho chúng ta một cách để nhằm liệu pháp trực tiếp vào khối u. Cách điều trị dùng hóa chất để chấn động mạch hoặc đổi máu với nước biển trong tĩnh mạch (TACE hoặc TAC) của gan thường được dùng bởi chuyên gia can thiệp bằng tia X tại châu Á và đã được áp dụng bởi Phòng Mạch Gan Toàn Diện tại Stanford trong bốn năm qua để chữa trị một số bệnh nhân có vết tổn thương không thể cắt bỏ được.

Tuy răng cách chữa trị này chỉ dùng để điều trị dưới những điều kiện rất khó khăn và kỹ lưỡng để giảm nguy cơ tai hại những phần trong gan không có vết tổn thương, cách điều trị này không hợp với những bệnh nhân có dấu hiệu suy gan (chất đản bạch trong huyết thanh dưới 3gm/dL, chất sắc tố mật quá 1.5gm/dL, và có nước trong bụng gọi là cổ Trướng) và những bệnh nhân có tĩnh mạch cửa bị chặn lại. Những bệnh nhân có phản ứng tốt sẽ được điều trị mỗi 4 tháng nếu cần thiết cho đến lúc mức AFP trở lại bình thường hoặc đến lúc hết tìm thấy vết tổn thương. Cách điều trị này chỉ cần bệnh nhân ở lại bệnh viện qua đêm để theo dõi và thường có thể chịu đựng được nếu dùng cách nêu trên. Những cách điều trị lâu dài với TACE hoặc TAC có liên quan với sự kéo dài đời sống của bệnh nhân, và trong trường hợp khối u được kiểm soát kỹ lưỡng hoặc teo rút nhỏ lại, bệnh nhân có thể được giải phẫu cắt bỏ hoặc ghép gan.

Ghép gan

Ghép gan là một cách điều trị ung thư gan nếu không có thể áp dụng giải phẫu hoặc những cách khác để cắt bỏ bướu, dưới điều kiện là khối u còn nhỏ (dưới 5 cm hoặc ít hơn 4 vết thương tổn), nằm hoàn toàn trong gan, và không có xâm lấn vào mạch máu.

Một bản báo cáo về một cuộc nghiên cứu bới Trung Tâm Gan Á Châu tại Trường Đại Học Standford cho thấy rằng, những bệnh nhân nào có phản ứng tốt với TACE hoặc TAC cũng có tỷ lệ sống sót cao sau khi ghép gan. Các khối u lớn có nguy cơ cao để tái phát và bệnh nhân có thể chết sau khi ghép gan. Sau khi ghép gan, bệnh nhân phải được tiếp nhận huyết cầu miễn dịch viêm gan B (HBIG) hoặc lamivudine, hoặc cả hai, để ngăn ngừa sự lây nhiễm HBV trong gan mới. Điều trị ung thư gan vẫn là một vấn đề rất khó khăn và cần sự thấu hiểu trong rất nhiều ngành, gồm bệnh ung thư gan, cách chẩn đoán bằng tia X, giải phẫu, ghép bộ phận, và những căn bệnh liên quan với gan. Sự chẩn đoán những khối u nhỏ lúc còn sớm là cách hữu ích duy nhất để tăng thêm kết quả điều trị ung thư gan.

Triệu chứng của Ung thư gan

Ung thư gan được gọi là sát thủ âm thầm vì đa số bệnh nhân vẫn cảm thấy khỏe mạnh và không có dấu hiệu hoặc triệu chứng mắc bệnh.Triệu chứng của Ung thư gan

Những khối u nhỏ không thể tìm được qua cách mò vị trí của gan nằm dưới xương sườn và vì thế nó có thể bị che khuất. Sự đau nhức thường không thể cảm giác được cho đến lúc khối u đã lớn và một số u không gây đau nhức hoặc những triệu chứng khác cho dù đã to lớn.

Thêm một nguyên do rắc rối nữa là mức mọc của một số loại ung thư gan. Những giai đoạn chót của ung thư gan, lúc đó đã to lớn hoặc lúc nó gây trở ngại cho những cơ năng của gan, có thể sinh ra những triệu chứng rõ ràng như đau nhức trong vùng trên phải của bụng, giảm cân, ăn không ngon miệng và cuối cùng là mắt và da bị vàng thêm (bệnh hoàng đản) và bụng bị trương lên. Lúc đó bệnh nhân chỉ có thể tiếp tục sống trung bình từ 3-6 tháng sau khi bệnh được đã được phát hiện, và tại sao y giới thường hoài nghi lúc đề cập đến ung thư gan. Cách duy nhất để tăng thêm kết quả điều trị chính là chẩn đoán ung thư lúc còn sớm bằng cách truy tìm ung thư trong những người đang có viêm gan B và trong những người đang bị xơ gan vì nhiễm viêm gan B hoặc C.

Tình trạng ung thư gan

Các khối u thường hay thâu nhận chất tương phản và vì thế ngay cả các cục bướu chứa đựng nhiều mạch máu cũng có thể nhận thấy được. Những cục bướu loại này thường bị bỏ sót nếu dùng kỹ thuật CT thông thường và máy dò xét chậm chạpTình trạng ung thư gan

Siêu âm cho gan hoặc xem xét bằng CT thường có thể được áp dụng để chẩn đoán ung thư gan, nhưng hai cách này thường không có đủ độ nhạy bén để có thể nhận ra những vết thương tổn nhỏ có nhiều tiêu điểm hoặc để áp dụng trong kế hoạch điều trị. Chủ yếu là sự ước định kỹ lưỡng ở vùng bụng qua cách xem xét bằng máy CT xoắn ốc với hai phương diện. Máy CT xoắn ốc nhanh lẹ này có năng lực để dò xét gan dưới phương diện động mạch không lâu sau khi bệnh nhân được nhận thực phẩm trong tĩnh mạch để làm chất tương phản. Một vết thương tổn chứa đựng nhiều mạch máu được thấy rõ ràng dưới phương diện động mạch mà lại phai đi dưới phương diện tĩnh mạch trong lúc dò xét là đặc tính của ung thư gan.

Người Á Châu nào mang bệnh viêm gan B và có loại u này trong gan, hoặc bệnh nhân nào bị xơ gan liên quan tới mức AFP tăng lên (hoặc một mức quá 500), là tương đương với sự chẩn đoán bệnh ung thư gan và không cần dùng cách sinh thiết để kiểm lại và xác định. Cách sinh thiết dùng kim nhỏ dưới da có thể được áp dụng trong trường hợp sự chẩn đoán giữa bướu ung thư gan hạng nhất hoặc ung thư gan di căn không được chắc chắn, dưới điều kiện là thí nghiệm này có thể được thực hiện một cách an toàn.

Sự chảy máu sau khi thử nghiệm sinh thiết có thể đe dọa đến sinh mạng nếu bệnh nhân bị xơ gan và có số lượng tiểu cầu thấp, thời gian đông máu kéo dài, và mạch máu mở rộng vì tăng áp suất (tăng huyết áp mạch cửa). Đại khái, vết thương tổn gan loại di căn rất hiếm có trong những bệnh nhân bị xơ gan.

Nguyên nhân gây bệnh Ung thư gan

Một điều quan trọng mọi người phải thừa nhận là tất cả những người gốc Á Châu có viêm gan B vì bị nhiễm lúc còn trẻ có nguy cơ cao dễ phát triển bệnh ung thư gan cho dù họ có xơ gan hay khôngnguyen nhan ung thu gan

Nguy cơ này cao hơn trong những người đàn ông và những người nào có ung thư gan di truyền trong gia đình. Mọi người đồn ý rằng vấn đề truy tìm ung thư gan thường xuyên là rất quan trọng cho những người gốc Á Châu có viêm gan B, nhưng công việc này đối với những người Mỹ trắng đã bị nhiễm lúc đã lớn tuổi hiện vẫn đang gặp nhiều tranh luận.

Tuy rằng những bệnh nhân gốc Á Châu có thể phát bệnh ung thư gan vào lúc đang còn tuổi thanh niên, tài liệu từ Hoa Kỳ cho biết rằng nguy cơ phát triển ung thư gan bắt đầu lên cao vào khoảng 30 tuổi. Một cách hợp lý để đối phó tình trạng này là bắt đầu thường xuyên truy tìm ung thư gan bắt đầu vào lúc 30-40 tuổi nếu bệnh nhân là người gốc Á Châu.

Việc truy tìm đại khái gồm có một cuộc thử máu để xem xét mức alpha-fetoprotein (AFP) cách mỗi 6 tháng và siêu âm gan mỗi năm một lần (Tại Đài Loan, bệnh nhân được siêu âm mỗi năm hai lần). Chỉ một trong hai cách thử nghiệm riêng có thể khiến chẩn đoán sai lầm. Mức alpha-fetoprotein chỉ lên cao trong 60-70% trường hợp ung thử gan, vì thế chỉ thử máu riêng thôi sẽ bỏ sót 30-40% trường hợp ung thư gan. Siêu âm có thể bỏ sót 20% của những trường hợp ung thư gan chưa tới 2 cm, nhất là khi việc phân tích hình siêu âm khó khăn vì gan bị xơ hại. Sau khi phát bệnh xơ gan, bệnh nhân nên được truy tìm thường xuyên.

Ung thư gan là gì?

Ung thư gan là một nhóm bệnh hoặc căn bệnh được di truyền và khiến tế bào trong người thay đổi một cách không thể kiềm chế được. Tế bào ung thư độc có thể xâm lấn vào những mạch máu và bạch huyết, lan tràn qua những bộ phận khác của cơ thể và từ đó tiếp tục lớn lên, cản trở những cơ năng bình thường của bộ phận đó.ung thu gan

Ung thư gan gồm có hai loại, một loại bắt nguồn từ gan (gọi là ung thư gan hạng nhất) và một loại bắt nguồn từ những bộ phận khác trong người nhiễm độc gan (được gọi là ung thư gan di căn hoặc ung thư gan hạng nhất). Ung thư gan hạng nhất bắt đầu trong gan. Những chức vụ của bộ phận gồm có:

 – Tích trữ vitamin và chất dinh dưỡng.

 – Trao đổi chất dinh dưỡng trong cơ thể.

 – Kiểm soát mức đường trong máu.

 – Phát xuất yếu tố đông máu.

 – Khử hoạt tính của thuốc độc và những loại hóa chất khác.