Category Archives: Viêm Gan B

Chế độ ăn cho người bị viêm gan B

Các virus gây viêm gan lưu hành hiện nay có 6 loại, bao gồm: virus viêm gan A, B, C, D, E, F và G, riêng virus viêm gan F đang được coi là biến thể của virus viêm gan B. Trong các loại virus gây viêm gan thì virut viêm gan B là nguy hiểm nhất vì khả năng lây nhiễm của virus viêm gan B rất cao (gấp 10 lần viêm gan C và 100 lần HIV) và tỷ lệ biến chứng xơ gan, ung thư khá lớn, do virut âm thầm tàn phá tế bào gan.che do an viem gan b
Cũng như các loại bệnh do virus khác, cho đến nay y học vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm gan do virus. Virut tồn tại trong người bệnh nhân suốt đời. Đây là nguồn lây bệnh chính cho gia đình và cộng đồng, nếu chúng ta không biết cách chăm sóc và giữ gìn, kiêng khem kỹ càng.

Về dinh dưỡng, bệnh nhân viêm gan nên ăn các loại thực phẩm giàu đạm (thịt cá, trứng, sữa…), đường và vitamin như hoa quả tươi, sữa chua…; giảm tối thiểu các thức ăn có mỡ, kể cả các món xào, rán; kiêng tuyệt đối rượu bia; khi ốm cần phải sử dụng thuốc phải hỏi ý kiến thầy thuốc để bảo đảm rằng loại thuốc đó không gây độc cho gan.

Thêm nữa, phải giữ gìn vệ sinh thực phẩm để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Vì gan là cơ quan có chức năng chính là xử lý và đào thải chất độc cho cơ thể, nên khi bị ngộ độc thực phẩm, gan sẽ phải làm việc nhiều hơn, có thể đẩy nhanh thêm quá trình tổn thương ở gan.

Advertisements

Loại thuốc mới điều trị bệnh viêm gan B

Hai công trình nghiên cứu quốc tế vừa cho thấy dược phẩm telbivudine có khả năng tiêu diệt loại virus phá hủy gan nhanh hơn và hiệu quả hơn so với các loại dược phẩm khác đang sử dụng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với người dân châu Á, nơi sinh sống của 80% bệnh nhân viêm gan B trên thế giới.

dieu tri viem gan b

Tổ chức Y tế thế giới cho biết, trên thế giới có khoảng 360 triệu người nhiễm bệnh viêm gan B và mỗi năm có khoảng một triệu người chết vì căn bệnh này. Những người bị viêm gan mãn có nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan.

Viêm gan B là một trong mười nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trên toàn thế giới.

Giáo sư C. L. Lai, chủ nhiệm khoa Bệnh gan tại trường đại học y khoa Hồng Công cho biết: Loại thuốc mới telbivudine được kỳ vọng sẽ giảm số người mắc bệnh viêm gan B cũng như giảm số người chết vì căn bệnh này. Bệnh viêm gan B có thể phòng được bằng cách tiêm vắc – xin; tuy nhiên, có tới 25- 40% số người trên toàn thế giới mắc bệnh và cuối cùng chết vì ung thư gan hoặc xơ gan.

Các triệu chứng của viêm gan B như vàng da, mệt mỏi, đau bụng, chán ăn, buồn nôn và đau khớp không hề xuất hiện ở trong 30% số người mắc bệnh, đặc biệt là ở trẻ em.

Phần lớn bệnh nhân viêm gan B bị nhiễm virus ngay từ khi còn trong bào thai hoặc khi còn rất trẻ. Gần 80% bệnh nhân viêm gan B ở châu Á. Giáo sư C. L. Lai ước tính chỉ có chưa đến 10% bệnh nhân viêm gan B trên toàn thế giới có dùng thuốc điều trị bệnh.

Một nghiên cứu trên 1.367 bệnh nhân viêm gan B tại 20 nước đã tiến hành so sánh kết quả điều trị giữa một nhóm bệnh nhân dùng dược phẩm telbivudine với một nhóm khác dùng dược phẩm lamivudine.

Các nhà khoa học nhận thấy dược phẩm telbivudine (do hãng Novartis AG và Idenix hợp tác sản xuất) giảm lượng virus nhanh hơn. Sau 52 tuần, những người dùng telbivudine giảm được số virus trong máu nhiều hơn gấp mười lần so với những người dùng lamivudine (do hãng GalaxoSmithKlein PLC sản xuất). Ngoài ra, tỷ lệ phần trăm bệnh nhân không còn tìm thấy DNA của virus viêm gan B trong máu ở nhóm sử dụng telbivudine cao hơn so với nhóm sử dụng lamivudine.

Kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y khoa có tên là The New England Journal of Medicine, số tháng 12-2007.

Một nghiên cứu biệt lập khác được công bố trên tờ Tập san nội khoa số tháng 2-2007 đã so sánh 135 bệnh nhân viêm gan B ở tám nước sử dụng dược phẩm telbivudine và một loại dược phẩm khác vẫn được dùng để điều trị viêm gan B là adefovir (do hãng Khoa học Gilead sản xuất) hoặc được dùng cả hai loại dược phẩm này.

Các kết quả cho thấy, một lần nữa, nhóm sử dụng dược phẩm telbivudine có dấu hiệu giảm DNA virus viêm gan B trong máu cao hơn so với nhóm sử dụng dược phẩm adefovir cả ở giai đoạn đầu, giữa và cuối phác đồ điều trị. Dược phẩm telbivudine cũng có tác dụng giảm số lượng virus ở cả những bệnh nhân chuyển đổi dùng thuốc.

Thuốc điều trị viêm gan mạn tính do virut B

Viêm gan virut B luôn là vấn đề có tính thời sự, nhất là ở các nước châu Á và châu Phi. Viêm gan virut B (VGB) là một bệnh truyền nhiễm ở người do virut viêm gan B (HBV) gây nên và là một bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

thuoc viem gan b

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hơn 1/3 dân số thế giới đã từng bị nhiễm HBV với khoảng 400 triệu người mang HBV mạn tính (HBsAg dương tính). Hằng năm trên thế giới có khoảng hơn một triệu người tử vong do biến chứng của VGB mạn tính, xơ gan, ung thư gan và bệnh gan giai đoạn cuối. Mục đích điều trị VGB mạn tính là làm sạch virut, cải thiện quá trình viêm và hoại tử ở gan. Tuy nhiên, để điều trị VGB mạn tính có kết quả và thành công là một vấn đề hết sức nan giải.

Với mục tiêu trên, cho đến tháng 12/2006 đã có 4 loại thuốc điều trị HBV đã được Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận là: interferon, lamivudin, adeforvir và entercavir.

– Interferon: Interferon có hai loại a và b trong đó interferon a là thuốc sử dụng khá rộng rãi trong điều trị VGB và viêm gan mạn tính hơn một thập kỷ nay. Cơ chế tác dụng kháng virut của interferon a đã được biết khá rõ. Tuy nhiên, tác dụng kháng virut này là không đặc hiệu và hiệu quả tác dụng cũng còn hạn chế. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng interferon a liều 3-5 triệu UI trong thời gian 4-6 tháng chỉ khoảng 30-40% chuyển đảo huyết thanh và khoảng 10% mất HBV-DNA. Tuy nhiên, sau ngừng thuốc một thời gian gần 5% bệnh nhân tái phát, xuất hiện HBV- DNA trở lại, mặt khác interferona nhiều tác dụng phụ, cần điều kiện bảo quản khá nghiêm ngặt (nhiệt độ từ 2 – 8oC), nên khi vận chuyển đi xa gặp nhiều khó khăn.

Hiện nay, người ta đã sản xuất và sử dụng peg interferona – 2a để điều trị VGB, tuy nhiên giá thành đắt và có nhiều phản ứng phụ.

– Lamivudin: Là loại thuốc tương đồng nucleoside được  sử dụng điều trị viêm gan B mạn tính từ 10 năm nay. Lamivudin cũng tương tự như các chất nucleoside gây ức chế quá trình tổng hợp DNA của virus. Sử dụng lamivudin liều 100mg hằng ngày sau 12 tháng thấy tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh là 16 – 18% (so với nhóm giả dược chỉ có 4 – 6% chuyển đảo huyết thanh).

Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng hiện tượng kháng thuốc xảy ra tỷ lệ thuận với thời gian dùng thuốc. Sau 4 năm sử dụng tỷ lệ kháng thuốc lên tới 70% và hơn nữa, khả năng tái phát sau khi dùng thuốc là khá cao. Thuốc ít độc, dùng kéo dài gây tốn kém.

– Adeforvir: Cũng là thuốc thuộc nhóm tương đương nucleoside được sử dụng nhiều nước trên thế giới và được nhập vào Việt Nam từ tháng 11/2004. Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virut. Người ta nhận thấy tỷ lệ kháng thuốc của adeforvir ngày càng cao và có những cơn bùng phát viêm gan cấp và nặng trên bệnh nhân ngừng thuốc.

– Entercavir (tên thương mại của Baraclude) là một đồng đẳng nucleoside, một chất guanosine có hoạt tính chọn lọc kháng lại HBV. Tên hóa học của entecavir là 2 – amino – 1,9- dihydro – 9[(1S,3R,4S) – 4hydroxy – 3 –(hydroxymethyl) – 2 menthylenecyclopentyl]  6 H – purin – 6 – one, monohydrate. Công thức phân tử là C12H15N5O3-H2O trọng lượng phân tử 295,3 .

Entecavir được sử dụng trong điều trị viêm gan B từ đầu năm 2005, tỷ lệ kháng thuốc chưa thấy công bố sau 2 năm điều trị. Song, cũng có một số ít trường hợp kháng thuốc được phát hiện ở những ca đã kháng lamivudin.. Đây là loại thuốc điều trị viêm gan B mạn tính bằng cách giảm số lượng virut, giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Thuốc chống virut với cơ chế tác dụng ức chế chọn lọc cả giai đoạn tổng hợp trong quá trình nhân bản (khởi đầu, sao chép ngược và tổng hợp ADN) của HBV trong gan. Baraclude được chỉ định điều trị cho người lớn có bằng chứng virut đang sao chép hoặc bị tăng dai dẳng các aminotranserase huyết thanh (ALT hoặc AST), hay bệnh đang hoạt động về phương diện mô học. Thời gian điều trị tùy theo đáp ứng, thường là từ 24-48 tuần.

Gần đây, FDA chấp thuận đưa vào dược phẩm mới chống virut có tên gọi telbivudin, thuốc có ít tác dụng phụ, sau 2 năm thử nghiệm đã tỏ ra có hiệu quả. Thuốc một mặt chữa trị tốt hơn, mặt khác lại có tác dụng tốt với các trường hợp đã kháng với các thuốc trước đó. Ngoài ra, ưu điểm của telbivudin là có thể kết hợp với các dược phẩm cũ đã được sử dụng để điều trị diệt virut viêm gan B tốt hơn. Thuốc hiện mới được bán ở Mỹ, trong tương lai gần sẽ được bán rộng rãi ở các thị trường dược trên thế giới.

Việc phát hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, ngứa, sốt nhẹ, đau tức vùng gan, nước tiểu sẫm màu… và qua xét nghiệm chứng minh cần được chữa trị kịp thời tránh chuyển sang mạn tính. Các thuốc trên đây thực chất không thể chữa trị được dứt điểm bệnh gan đã mắc mà chỉ có vai trò ngăn chặn và hoặc tái tạo một phần, giảm thiểu sự phá hoại của virut cải thiện các triệu chứng bệnh lý mà thôi. Tốt nhất và trước tiên phải biết giữ gìn cho gan khỏe mạnh.

Sử dụng thuốc để điều trị viêm gan B

Những loại thuốc nào được dùng để điều trị viêm gan B ?

Liệu pháp kháng vi rút không được khuyến cáo trong giai đoạn viêm gan B cấp bởi vì tình trạng nhiễm trùng tự thoái lui ở hấu hết bệnh nhân có triệu chứng. Tuy nhiện, suy gan cấp đã nói ở trên chiếm dưới 0,5% trường hợp viêm gan B cấp ở người lớn đòi hỏi lưu ý đánh giá về việc ghép gan.tac-dung-phu-cua-thuoc-dieu-tri-viem-gan

FDA đã đưa ra hai loại thuốc là interferon và lamivudin để điều trị viêm gan B mạn. Việc sử dụng thuốc kháng vi rút điều trị cho những bệnh nhân có vi rút đang hoạt động sinh sản ( HBeAg dương tính và HBV DNA dương tính ), thay đổi chức năng gan ( tăng men gan ALT và AST) và không có dấu hiệu bệnh lí gan ( chỉ những biến chứng của xơ gan ). Mục đích trực tiếp của liệu pháp kháng vi rút là làm giảm sự sinh sản (Ức chế HBeAg và HBV DNA trong máu ) và cải thiện chức năng gan ( ALT và AST về bình thường ). Mục tiêu cơ bản là dự phòng tổn thương và sẹo hóa mô gan nhiều hơn nữa, làm ngừng tiến trình đến xơ gan và bằng cách đó dự phòng các biến chứng của xơ gan bao gồm cả ung thư gan.

Interferon trong điều trị viêm gan B mạn ?

Interferon – alpha 2b ( intron A) lần đầu tiên cho thấy hiệu quả trong điều trị viêm gan B mạn vào năm 1988. Ngay sau đó, FDA cấp phép interferon trong điều trị viêm gan B mạn. Interferon –alpha 2b là một protein nhỏ tự nhiên trong cơ thể được tạo ra bởi bạch cầu để chống lại sự nhiễm vi rút. Ngoài ra nó có hiệu quả kháng vi rút trực tiếp bằng cách hỗ trợ hệ miễn dịch cơ thể làm sạch vi rút.

Người ta tạo ra nhiều loại interferon, bao gồm beta interferon, gamma interferon , và ít nhất hơn 20 loại alpha interferon khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có interferon-alpha 2b và interferon – alpha 2a là được FDA chấp nhận cho sử dụng trong lâm sàng ở Mỹ. Hoạt động kháng vi rút của hai loại interferon là tương tự nhau mặc dù chỉ interferon –alpha 2b là được cấp phép sử dụng điều trị viêm gan B mạn. Lưu ý rằng ribavirin, một loại thuốc dùng kết hợp với interferon trong điều trị viêm gan C thì không có hiệu quả trong điều trị nhiễm HBV.

Để điều trị viêm gan B mạn, một đợt điều trị interferon từ 4-6 tháng. Interferon được tiêm dưới da mỗi ngày với liều 5 triệu đơn vị hay 3 lần một tuần với liều 10 triệu đơn vị. Kết quả điều trị là làm giảm sự sinh sản HBV 30-40% ở bệnh nhân được điều trị. Điều trị thành công khi biến mất HbeAg, HBV DNA và xuất hiện kháng thể anti- Hbe. Vì vậy, chuyển từ giai đoạn vi rút đang hoạt động sang giai đoạn không hoạt động. Xét nghiệm chức năng gan trở về bình thường sớm nhất và không có tổn thương hay sẹo hóa mô gan dưới lâm sàng (được thấy qua sinh thiết gan ). Hơn 50% bệnh nhân không phải là người Châu Á đã được điều trị thành công không có HBsAg trong máu. Tuy nhiên, một lượng nhỏ HBV còn tồn tại trong gan của họ. Điều này cho thấy sự hạn chế HBsAg hầu như không bao giờ xảy ra ở Châu Á, ngay cả những người đã điều trị thành công. Tuy nhiên, sự tái hoạt động của vi rút chỉ chiếm khoảng 5% trường hợp bệnh nhân được điều trị thành công.

Có nhiều tác dụng phụ khi điều trị bằng interferon. Thực vậy ngay cả khi phóng thích interferon nội sinh cũng gây triệu chứng giống như cúm. Không có gì phải ngạc nhiên vì điều đó, việc tiêm interferon thường gây ra những triệu chứng giống như cúm từ trung bình đến nặng, bao gồm: mệt mỏi, đau cơ, sốt, ớn lạnh, và chán ăn. Những triệu chứng giống cúm này là tác dụng phụ thường gặp nhất khi điều trị bằng interferon chiếm 80% trường hợp bệnh nhân. Tác dụng phụ khác bao gồm lo âu ( 20%), suy hay cường giáp (6%), giảm chức năng xương ống ( 40%, giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu ) và rụng tóc (25%). Khoảng 1/5 bệnh nhân điều trị interferon cần phải ngưng điều trị hay giảm liều do những tác dụng phụ này.

Điều không may mắn là phần lớn bệnh nhân viêm gan B mạn không đáp ứng với trị liệu bằng interferon. Tuy nhiên, dữ liệu của một trị liệu lý tưởng từ những điểm lợi của việc dùng interferon đã được biết. Như một bệnh nhân có mức HBv cao trong máu, men gan tăng ( AST )

Thực đơn “vàng” cho người viêm gan

Chế độ dinh dưỡng của người viêm gan đòi hỏi phải cung cấp đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng nhằm ngăn ngừa huỷ hoại thêm tế bào gan và thúc đẩy tái tạo mô gan. Chính vì thế, khi xây dựng các thực đơn nên chọn thực phẩm đa dạng để tránh nguy cơ thiếu hụt các chất dinh dưỡng và đỡ nhàm chán. Thức ăn nên nấu mềm, bữa ăn chia nhỏ thành nhiều bữa, tránh ăn quá no hoặc để đói quá.thuc don viem gan b

Với người viêm gan B cấp tính

Cần ăn thành nhiều bữa (6 – 7 bữa), tránh ăn quá no và ăn những thức ăn khó tiêu có nhiều gia vị, dầu mỡ như tiêu, ớt, đồ ăn chiên rán, nên uống nhiều nước rau quả, đặc biệt không uống rượu, bia, cà phê, thuốc lá. Thực đơn mẫu (xem bảng).

Với người viêm gan mạn tính

Nên ăn uống một cách gần như bình thường, tránh ăn kiêng quá mức cần thiết. Ăn nhiều rau quả và trái cây để có đủ chất xơ cũng như ăn nhiều đạm, nhất là đạm thực vật. Uống bổ sung thêm vitamin nhóm B và khoáng chất như kẽm, selen nhưng không nên uống hay ăn những thực phẩm chứa nhiều chất sắt để tránh ứ đọng sắt trong gan. Ăn các thức ăn dễ tiêu, tránh thức ăn có nhiều chất béo, tránh các thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng. Số bữa ăn: 3 – 4 bữa/ngày. Cung cấp đủ vitamin, đặc biệt vitamin nhóm B, K, muối khoáng và nước: 2 lít/ngày.

Với người bị xơ gan

Các chất đa sinh tố, axít folic, kẽm, selen được khuyến khích sử dụng nhất trong những trường hợp viêm xơ gan do rượu. Tuỳ vào giai đoạn xơ gan còn bù hoặc mất bù (các tế bào gan còn lại không thể gánh vác hay thực hiện các chức năng của một lá gan bình thường), cần giảm từ 20 – 25% năng lượng. Giảm 25 – 30% chất béo, chất đạm cũng giảm theo mức độ bệnh lý. Cung cấp các vitamin nhóm B, vitamin K, ăn nhạt tương đối. Đến giai đoạn này người bệnh cần được xác định mức độ xơ gan và các biến chứng để chỉ định chế độ ăn cụ thể.

Thực đơn mẫu: Sáng: phở bò, không ăn nước béo (bánh phở 200g, thịt bò 30g). Trưa: cơm hai chén lưng (100g gạo), thịt gà nạc rang (60g), rau muống luộc (200g), nước trái cây (200ml). Chiều: cơm hai chén lưng (100g gạo), giá xào thịt nạc (thịt nạc 50g + giá 100g), canh cải ngọt nấu thịt heo nạc (cải xanh 50g + 50g thịt heo nạc). Thanh long (100g). Tối: sữa tươi 200ml.

Những lưu ý khi chọn thực phẩm

Các thực phẩm nên dùng: thịt bò, thịt heo nạc, cá, sữa tách béo, sữa đậu nành, sữa có tăng cường axít béo bảo hoà chuỗi trung bình, gạo tẻ, nếp, bánh phở, miến, nui, khoai tây, khoai lang, đường mía, mật ong, các loại rau củ và trái cây chín. Dầu thực vật: dầu dừa, dầu cọ, đậu nành, mè, hướng dương. Đồ uống có đặc tính lợi gan, mật: trà nhân trần, atiso.

Thực phẩm hạn chế hoặc không nên dùng: mỡ động vật, thịt mỡ, trứng chỉ nên ăn 1 – 2 quả/ tuần, bơ, sữa nguyên kem, nội tạng (tim, gan, lòng…); thức ăn mặn; các chất kích thích, thực phẩm dễ gây dị ứng đối với từng người bệnh.

TS-BS Nguyễn Thanh Danh trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM

Trị viêm gan bằng cây cỏ quanh nhà

Viêm gan là một trong những căn bệnh được đông y đề cập đến từ hàng nghìn năm nay trong phạm vi các chứng bệnh như hoàng đản, cấp hoàng, hiếp thống, tích tụ… Các bài thuốc mang tính kinh điển và kho tàng kinh nghiệm dân gian điều trị viêm gan với cây cỏ quen thuộc quanh nhà, quanh vườn cũng hết sức phong phú.

tri viem gan Viêm gan là một trong những căn bệnh được đông y đề cập đến từ hàng nghìn năm nay trong phạm vi các chứng bệnh như hoàng đản, cấp hoàng, hiếp thống, tích tụ… Các bài thuốc mang tính kinh điển và kho tàng kinh nghiệm dân gian điều trị viêm gan với cây cỏ quen thuộc quanh nhà, quanh vườn cũng hết sức phong phú. Bên cạnh các vị thuốc nổi tiếng như nhân trần, chi tử… đã từng được biết đến và nghiên cứu khá sâu, còn rất nhiều những cây cỏ quen thuộc với đời sống hàng ngày được dùng để phòng chống viêm gan như chó đẻ răng cưa (diệp hạ châu), bồ công anh, cỏ tím (tử hoa địa đinh), cỏ lưỡi rắn (bạch hoa xà thiệt thảo), cỏ roi ngựa (mã tiên thảo), thài lài tía, rễ cỏ tranh, sắn dây, phèn đen, bản lam căn, cối xay, kim tiền thảo, rễ bươm bướm, rau má, rễ lúa nếp, rễ cây bông, rễ và quả dứa dại, cành liễu, hạt mã đề (xa tiền tử), hạt gấc, hạt cải củ, nghệ đen, râu ngô… Các thảo dược này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với nhau tạo thành những bài thuốc rất đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng, rẻ tiền và có hiệu quả ở một mức độ nhất định. Xin giới thiệu một số bài thuốc phổ biến, dễ làm, có hiệu quả để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

– Chó đẻ răng cưa 20 – 40g sắc với 600ml nước lấy 200ml, chia uống vài lần trong ngày. Cũng có thể dùng dưới dạng hãm uống thay trà.

– Nhân trần 60g, đại táo 250g, đậu xanh 125g, sắc uống hàng ngày.

– Rễ lúa nếp 100 – 150g cắt vụn, sắc lấy nước chia uống vài lần trong ngày.

– Cành và lá liễu tươi 60g sắc với 1 lít nước lấy 300ml, chia uống vài lần trong ngày.

– Bạch linh tán bột 20g, đậu đỏ 50g, ý dĩ 20g. Nấu đậu đỏ và ý dĩ thành cháo rồi cho bột bạch linh vào quấy đều, chế thêm một chút đường trắng, chia ăn hai lần trong ngày.

– Tử hoa địa đinh 30g tán bột, mỗi ngày uống 9g với nước ấm.

– Nhân trần bốn phần, hạt dành dành (chi tử) hai phần, lá mơ lông hai phần, bông mã đề hai phần. Tất cả sấy khô, thái vụn, trộn đều, mỗi ngày lấy 30g, hãm uống thay trà.

– Cỏ roi ngựa 60g, sắc uống hàng ngày.

– Nhân trần 30g, cúc hoa 15g, hãm uống thay trà.

– Râu ngô, kim tiền thảo, nhân trần, mỗi thứ 9g, sắc hoặc hãm uống.

– Rễ cây bông bảy cái sắc lấy nước chia uống hai lần trong ngày.

– Ngọn bầu non 50g đem nấu với củ cải và đậu phụ làm canh ăn.

– Cỏ lưỡi rắn 500g, nhân trần 150g, cam thảo sống 50g. Tất cả đem sấy khô, thái vụn, trộn đều, mỗi ngày dùng 60g, hãm uống thay trà.

– Nhân trần 150g, hạt dành dành sao đen 90g, vỏ quýt khô 70g. Tất cả đem sấy khô, thái vụn, trộn đều, mỗi ngày dùng 30g, hãm uống thay trà.

– Rễ cỏ tranh 400g, nhân trần 150g, bán biên liên 300g. Tất cả sấy khô, thái vụn, trộn đều, mỗi ngày dùng 50g, hãm uống thay trà.

– Ngũ vị tử tán vụn 100g, mỗi ngày uống 5g với nước ấm.

Cho đến nay, một số cây cỏ nêu trên đã được khoa học hiện đại nghiên cứu chứng minh tác dụng trị liệu bệnh viêm gan trên thực nghiệm và lâm sàng. Ví như, nhân trần có tác dụng kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của virút viêm gan, lợi mật, bảo hộ tế bào gan, tiêu viêm giải nhiệt, lợi niệu, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể; cây chó đẻ răng cưa (diệp hạ châu) có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, diệt nấm, bảo hộ tế bào gan và ức chế virút viêm gan B. Một nghiên cứu lâm sàng sơ bộ trên 37 người mang virút viêm gan B với liều 200mg trong 30 ngày cho thấy có 22 người (59%) đã mất kháng nguyên bề mặt HBsAg của viêm gan B khi xét nghiệm ở ngày 15 – 20 và sau khi kết thúc liệu trình điều trị… Điều đó cho thấy, việc sử dụng cây cỏ theo kinh nghiệm của đông y để phòng chống viêm gan là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Vấn đề là ở chỗ, chúng ta phải có quan điểm thực sự cầu thị, nghiêm túc tiến hành khảo sát nghiên cứu, để từ đó đưa ra những sản phẩm có giá trị giúp cho quá trình phòng trị bệnh viêm gan có hiệu quả và đảm bảo an toàn.

ThS Hoàng Khánh Toàn (trưởng khoa đông y, bệnh viên trung ương quân đội 108)

Bệnh viêm gan do virus và cây Diệp hạ châu

Khoảng 2 tỷ người trên thế giới đã hoặc đang nhiễm virus viêm gan B, tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, viêm gan B là một trong mười nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất, khoảng 1 triệu ca tử vong mỗi năm do bệnh này và hơn 350 triệu người mang virus mạn tính có nguy cơ bị chết do xơ gan và ung thư gan. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nhiễm viêm gan B cao nhất trên thế giới. Người bị viêm gan B mạn tính có nguy cơ ung thư gan cao gấp 20 lần so với người bình thường, và 40% trong số họ sẽ tử vong vì ung thư gan.

diep ha chau va benh gan

Các thuốc điều trị viêm gan B hiện nay gồm: Interferon (thuốc tiêm) và lamivudin, adefovir, entecavir (thuốc uống), tùy theo tình trạng bệnh và khả năng tài chính của bệnh nhân mà bác sĩ chuyên khoa sẽ quyết định dùng thuốc nào. Tuy nhiên, tình trạng virus viêm gan B kháng thuốc, độ an toàn khi sử dụng lâu dài và lợi ích kinh tế của các thuốc chống virus đang là vấn đề nan giải khi lựa chọn liệu pháp điều trị bệnh viêm gan B. Trước thực tế đó, một loạt các nghiên cứu đã được tiến hành khắp nơi trên thế giới để tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất cho điều trị bệnh viêm gan B, trong đó có các nghiên cứu về cây Diệp hạ châu đắngDiệp hạ châu đắng là một dược thảo phổ biến với tên gọi dân gian là Chó đẻ răng. Từ xưa, các lương y đã dùng Diệp hạ châu đắng làm thuốc lợi tiểu, trị bệnh gan và thận, làm mát gan, giải nhiệt, trợ giúp tiêu hóa, phòng và chữa suy gan do nghiện rượu bia. Y học hiện đại đã chứng minh, những hoạt chất có trong Diệp hạ châu đắng có rất nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là khả năng khôi phục chức năng bình thường của gan và giải độc cơ thể. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh thành công trong điều trị viêm gan do virus B bằng Diệp hạ châu đắng.

Trên thị trường hiện đang lưu hành một số chế phẩm từ cây Diệp hạ châu đắng. Trong đó, thuốc HAMEGA do Công ty Nam Dược sản xuất có thành phần là cao khô Diệp hạ châu với hàm lượng cao nhất, nguồn nguyên liệu được được trồng tại Việt Nam, được thu hái và chế biến công phu, công nghệ chiết xuất hiện đại. HAMEGA được bào chế ở dạng viên nang tiện dụng, dễ uống, được nhiều người tin dùng và đánh giá cao…

Thuốc HAMEGA có tác dụng hạ men gan, điều trị viêm gan do virus, phục hồi và giải độc gan cho những người uống rượu bia nhiều. Ngoài ra, thuốc được dùng trong các trường hợp dị ứng, lở ngứa ngoài da, mụn nhọt, rối loạn tiêu hoá do chức năng thải độc của gan kém.

HAMEGA đáp ứng các yêu cầu của một thuốc điều trị bệnh gan, với hiệu quả điều trị đã được thế giới công nhận, thuốc làm từ nguyên liệu tự nhiên nên độ an toàn cao và giá thành hợp lý.