Category Archives: Viêm Gan C

Dùng thuốc khi bị viêm gan C

Sau khi bị nhiễm virus viêm gan C, có khoảng 30-40% người khỏi hoàn toàn không để lại di chứng gì. Số người còn lại sẽ có khoảng 20-25% mang virus viêm gan C không có triệu chứng, còn lại thì chuyển sang dạng viêm gan C mãn tính. Trong số viêm gan C mãn tính sẽ có khoảng 20% chuyển thành xơ gan, 1-5% chuyển thành ung thư gan.dung thuoc viem gan c

Xét trên góc độ lây truyền và hậu quả do nhiễm virus viêm gan C thì đây là một bệnh cực kỳ nguy hiểm.

Thuốc và cách dùng

Trước khi dùng thuốc, cần thăm khám các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm:

-Sinh thiết gan được xem là “tiêu chuẩn vàng” để xác định mức độ bệnh và quyết định việc dùng thuốc nhưng tâm lý chung của người bệnh là không muốn làm.

-Chỉ số enzym ALT và chỉ số bilirubin tăng cao khi bị viêm gan C nhưng cũng tăng cao do các bệnh viêm gan khác nên không có tính đặc trưng.

-Test nhanh với que thử virus viêm gan.

-Ở những tuyến y tế có điều kiện kỹ thuật cao còn xác định kháng thể chống virus viêm gan C hoặc định lượng ARN của virus viêm gan C.

-Nếu nghi ngờ bị mắc bệnh do virus viêm gan C nên chấp nhận làm mọi xét nghiệm để xác định và tiên lượng bệnh được chính xác.

Phác đồ điều trị hiện nay gồm có hai thuốc: interferon và ribavirin.

Interferon: Kháng virus (ức chế quá trình nhân đôi virus) tác động vào hệ miễn dịch (tăng kích thước tế bào miễn dịch và đại thực bào). Không dùng đường uống (vì thuốc bị thủy phân trong ống tiêu hóa). Chỉ dùng tiêm bắp, có loại chỉ dùng tiêm tĩnh mạch (vì bị hủy trong bắp thịt).

Ribavirin: Là những thuốc ức chế sự tổng hợp acid nucleic của virus chung được dùng trong nhiều bệnh do nhiễm virus như bị nhiễm herpes simplex (gây bệnh ngoài da, niêm mạc), herpex zoster (gây bệnh zona), nhiễm virus gây bệnh đường hô hấp (cúm…) và được chọn dùng trong viêm gan do virus viêm gan C. Thường dùng với liều 800-1.200mg/ngày. Hai thuốc này phải dùng kết hợp. Dùng riêng lẻ không có hiệu quả.

Thuốc có một số tác dụng phụ: interferon có thể gây dị ứng, giả cúm (mệt, sốt, ớn lạnh), các triệu chứng thần kinh (chóng mặt, choáng váng, trầm cảm, lú lẫn, kích động…); làm thay đổi công thức máu và làm một số chỉ số enzym (SOGT, phosphatase kiềm LDH và bilirubin) nhưng rất hiếm khi gây viêm gan. Người có bệnh tim nặng, suy tủy nặng, có tiền sử động kinh hoặc tổn thương chức năng thần kinh không được dùng. Ribavirin gây độc cho người suy thận, thiếu máu, có thai, không được dùng cho các đối tượng này. Ngoài các chống chỉ định nói trên hầu hết người bệnh ít xảy ra tác dụng phụ, nếu có cũng chịu đựng được, nhưng khi dùng cần theo dõi cẩn thận.

Nhìn vào cơ chế thì các thuốc trên hầu như chưa có tính đặc hiệu song thực tế cho hiệu quả cao, có thể chữa khỏi viêm gan C cho phần lớn người bệnh (có tài liệu nói 60%, có tài liệu nói 70%), hiện được coi là chọn lựa hàng đầu, là phác đồ bắt buộc. Trong điều trị viêm gan C, chỉ khi nào loại trừ được virus viêm gan C ra khỏi cơ thể thì mới có thể chặn đứng được diễn tiến xấu của bệnh và ngăn ngừa được xơ gan, ung thư gan, thậm chí giảm được mức độ xơ hóa gan của người bệnh xơ gan sớm. Người bệnh khi đã điều trị không tự ý dừng thuốc.

Hai loại thuốc trên đều đắt tiền, cần dùng trong thời gian dài nên phải có sự chuẩn bị về kinh tế và kiên nhẫn.

Có một số tài liệu nói về các thảo dược chữa bệnh viêm gan C nhưng chưa có bằng chứng về hiệu quả, mức độ tin cậy chưa cao, chỉ có giá trị tham khảo, phải nghiên cứu thêm. Một số người khi bị viêm gan C còn dùng PMC với biệt dược nissel hay omitan (Hàn Quốc); DDB với biệt dược fortec (Hàn Quốc), bedipa (Việt Nam). Chúng là các chất tổng hợp, tương tự như schisandrin C, phân lập từ ngũ vị tử bắc (schisandra sinensis schisandraceae). Đây là những thuốc tăng cường chức năng gan, giúp cho việc giải độc, thải độc, tái tạo tế bào gan do đó bảo vệ được gan, chứ không phải là thuốc kháng virus viêm gan C và chỉ dùng trong thời điểm nhất định. Khi chẩn đoán đúng là bị viêm gan do virus viêm gan C, nhất là trong trường hợp nghiêm trọng thì phải dùng các thuốc theo phác đồ nói trên.

Hằng năm có tới 3% dân số thế giới mắc bệnh và 170 triệu người mang virus viêm gan C. Ở Việt Nam, số người mang virus viêm gan C không có triệu chứng là 10%. Đường lây truyền chủ yếu là tiếp xúc với máu của người bệnh, nhưng cũng có khoảng 50% người mang virus viêm gan C không xác định được bị lây nhiễm theo đường nào.

Có thể bạn chưa biết

Loại interferon thông thường phải tiêm 3 lần trong mỗi tuần; loại peginterferon có tác dụng kéo dài hơn chỉ tiêm một lần mỗi tuần. Một đợt điều trị kéo dài ít nhất 6 tháng.

 

 

DS. Bùi Văn Uy

(Theo SK&ĐS)

Advertisements

Tự chăm sóc khi bị viêm gan C

Nếu bị chẩn đoán viêm gan C, bác sĩ của bạn thường sẽ đưa ra lời khuyên về một số thay đổi lối sống. Những phương pháp đơn giản này sẽ giúp bạn khỏe mạnh lâu hơn cũng như bảo vệ sức khỏe cho những người khác.cham soc viem gan c

-Bỏ rượu. Rượu đẩy nhanh tiến triển của bệnh gan.

-Tránh dùng các thuốc gây tổn thương gan. Bác sĩ sẽ khuyên bạn về các thuốc này, bao gồm thuốc không kê đơn cũng như thuốc kê đơn.

-Duy trì lối sống lành mạnh. ăn theo chế độ ăn lành mạnh chú trọng rau quả tươi, và ngũ cốc nguyên cám, thường xuyên luyện tập, và nghỉ ngơi đầy đủ.

-Ngăn ngừa người khác tiếp xúc với máu của bạn. Băng các vết thương mà bạn có và không dùng chung dao cạo râu và bàn chải đánh răng. Không cho máu, tạng hoặc tinh dịch, và nói cho nhân viên y tế biết là bạn đang nhiễm virus.

Mục đích và phương pháp điều trị HCV là gì ?

Mục đích sau cùng của điều trị kháng virus là loại bỏ virus, cải thiện và bình thường hoá xét nghiệm về gan và mô học, ngăn ngừa tiến triển đến xơ gan và ung thư gan, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.chua benh viem gan C(1)

Hiện nay, phép đo phù hợp duy nhất để đánh giá lợi ích điều trị là đáp ứng virus học đối với điều trị được đo bằng RT-PCR hay TMA. Ngoài ra, như đã chỉ dẫn ở trên, chỉ có đáp ứng duy trì là có khả năng đạt được mục đích cuối cùng. Như đã lưu ý, đáp ứng điều trị được định nghĩa là không thể tìm thấy RNA HCV 6 tháng sau khi hoàn chỉnh đợt điều trị kháng virus. Hầu hết bệnh nhân có đáp ứng duy trì vẫn còn giảm tiếp một cách mập mờ.

Nhiều người không đáp ứng (đối với virus) vẫn có thể có đáp ứng hoá sinh (ví dụ ALT bình thường), có hoặc không có biểu hiện triệu chứng. Nhưng một đáp ứng sinh hoá (và triệu chứng ) thì không đủ để cho biết hay tiên đoán kết quả có thuận lợi. Tuy vậy, ngay ở những người có đáp ứng trở lại hay không đáp ứng, cải thiện tổn thương và sẹo ở gan đôi khi có thể nhận thấy sau điều trị interferon. Tuy nhiên, một cách tự nhiên, sự cải thiện ở những bệnh nhân này không có giá trị như ở những người có đáp ứng duy trì. Thật vậy, chỉ khi virus bị tiêu diệt thì hiệu quả điều trị mới có.

Lựa chọn phương pháp điều trị nào cho bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn tính chưa được điều trị trước đây ?

Lựa chọn điều trị cho bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn tính chưa được điều trị trước đây bao gồm interferon thông thường (đã lỗi thời), interferon thường kết hợp và ribavirin, interferon biến đổi và interferon biến đổi kết hợp với ribavirin.

Interferon thường đơn độc.

Trong quá khứ, phương pháp điều trị chính của viêm gan siêu vi C mạn tính là interferon alpha. Interferon là một họ protein tự nhiên được sản xuất bởi cơ thể nhằm chống lại virus. Interferon được cung cấp bằng tiêm dưới da, tương tự như của insulin. Khi điều trị với interferon có tiến triển, mức độ đáp ứng duy trì tăng lên đáng kể.

Thật vậy, rất có ích khi xem lại tiến triển của điều trị interferon. Cho đến ngày nay, 3 loại interferon alpha được chấp nhận bởi FDA :interferon alpha 2b (Intron-A), interferon alpha 2a (Roferon), interferon alpha hiệu ứng (Infergen). Tất cả các dạng này dường như hiệu quả như nhau và tác dụng phụ tương tự. Mức độ đáp ứng duy trì trong 6 tháng điều trị bằng interferon alpha chỉ vào khoảng 8%. Kéo dài thời gian điều trị đến 48 tuần tăng đáp ứng duy trì đến 15%. Sau đó, với kỹ thuật phân tử, những yếu tố như genotype virus, số lượng virus trong máu, hình dạng mô gan vi thể, và một vài đặc điểm bệnh nhân được ghi nhận cho giai đoạn duy trì. Những đặc điểm có lợi này gồm :

-Genotype 2 hay 3.

-Lượng virus <2 triệu bản/ml.

-Không có xơ gan .

-Giới nữ.

-< 40 tuổi.

Ví dụ những người bị nhiễm genotype 2 dường như đáp ứng với liệu pháp interferon thường gấp 2 lần so với bệnh nhân nhiễm genotype 1. Do đó, chọn lựa bệnh nhân với những đặc điểm này cho điều trị interferon làm tăng thêm thời gian lui bệnh (giai đoạn duy trì).

Interferon thường kết hợp và ribavirin.

Tác nhân kháng virus, ribavirin(Rebetol) là một chất tương tự nucleoside lấy từ miệng. Chất giống nucleoside là phân tử nhân tạo rất giống như đơn vị hóa sinh tạo nên chất liệu di truyền (RNA và DNA). Do đó, ribavirin hoạt động như kẻ giả danh lừa nguyên liệu di truyền của virus và làm chậm sự tái bản của chúng.

Hoá ra ribavirin không có hiệu quả điều trị viêm gan siêu vi C khi dùng một mình, mà có lợi khi kết hợp với interferon thông thường. Tổng đáp ứng duy trì (SR ) với interferon alpha 2b kết hợp với ribavirin(Rebetron) trong 48 tuần khoảng 40%. Tuy nhiên, SR ở bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3 là 60% so với khoảng 30% ở bệnh nhân nhiễm genotype 1.

Bệnh nhân nhiễm genotype 1, có thể với lượng virus thấp, có lợi khi điều trị 48 tuần hơn là 24 tuần. Mặt khác, bệnh nhân nhiễm genotype 2 hay 3, bất kể lượng virus, đáp ứng tương tự dù là điều trị Rebetron 24 hay 48 tuần. Do đó, bất kể số lượng virus, bệnh nhân với genotype 1 nên điều trị 48 tuần và bệnh nhân với genotype 2 hay 3 nên điều trị 24 tuần với Rebetron.

Kết hợp Rebetron liên quan đến tác dụng phụ nhiều hơn là liệu pháp interferon đơn thuần. Thật vậy, trên 20% bệnh nhân điều trị với Rebetron đòi hỏi phải giảm liều hay ngưng điều trị vì tác dụng phụ của nó. Tuy nhiên, điều trị kết hợp này đại diện cho tiến bộ trong điều trị viêm gan siêu vi C mạn và đã trở thành tiêu chuẩn chăm sóc mà liệu pháp tương lai phải cân nhắc.

Trong những thử nghiệm trước đây dùng interferon đơn thuần, lượng virus tìm thấy sau 12 tuần điều trị cho thấy bệnh nhân không đáp ứng ngay khi việc điều trị kéo dài 1 năm. Ở vài bệnh nhân, khi điều trị kèm với Rebetron, còn lượng virus sau 12 tuần điều trị nhưng vẫn có đáp ứng duy trì. Do đó, bệnh nhân được điều trị kết hợp nên định lượng HCV RNA PCR sau 24 tuần điều trị. Những người có virus dương tính ở thời điểm đó nên ngưng điều trị, từ đó sẽ có thay đổi để đạt hiệu quả đáp ứng duy trì.

Liệu pháp interferon biến đổi đơn thuần

Interferon alpha thông thường được hấp thụ và thải trừ qua thận. Trong 12 giờ đầu điều trị interferon, thuốc tác động đến lượng virus làm giảm số lượng vì virus bị tiêu diệt bởi interferon. Tuy nhiên, sau đó virus lại tăng lên lại vì interferon được thải nhanh. Một cách để giữ lượng virus ở mức thấp là làm chậm quá trình thải interferon.

Một tiến bộ hoá học được gọi là pegylation interferon (hình thành interferon biến đổi) đã được phát hiện có thể làm chậm sự thanh thải interferon. Pegylation làm gắn phân tử polyethylen glycol (PEG) vào interferon. Khi gắn vào interferon, PEG về cơ bản sẽ làm tăng thời gian mà interferon có thể ở trong cơ thể để diệt virus.

Hiện nay có 2 loại interferon biến đổi : alpha 2b (Peg-Intron A) và alpha 2a (Pegasys). Peg-Intron A đã được FDA thừa nhận trong khi Pegasys thì còn đang xem xét. Cả 2 loại interferon biến đổi được dùng 1lần/tuần và kết quả là interferon tồn tại hằng định trong máu 7 ngày. Do đó, tiện ích này sẽ bỏ đi nhu cầu dùng hằng ngày đối với interferon thường. Ngoài ra, tuy sự khác biệt về cấu trúc và liều lượng giữa 2 loại inteferon pegylated nhưng không có sự khác biệt về hiệu quả và tính an toàn của chúng.

Dữ liệu về interferon biến đổi vẫn còn đang làm rõ từ những thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu là chưa có một so sánh từ đầu đến cuối giữa 2 loại interferon biến đổi này. Nói cách khác, 2 loại interferon biến đổi chưa được so sánh trực tiếp với nhau trong cùng một thử nghiệm lâm sàng. Do đó, mức độ đáp ứng duy trì (SR ) có được với 1 interferon biến đổi trong 1 nghiên cứu không thể so sánh hiển nhiên với SR lấy từ một nghiên cứu khác. SR chung ở bệnh nhân chưa điều trị trước đây dùng Pegasys 48 tuần là  39%, có thể so sánh được với SR của liệu pháp Rebetron kết hợp đã được báo cáo trước đây.

Trong một nghiên cứu khác, SR thấp hơn đối với Peg-Intron A. Tuy nhiên, sự khác biệt từ SR được báo cáo cho Pegasys không có ý nghĩa vì có sự khác nhau về genotype 1 ở 2 nghiên cứu. Do đó, có thể an tâm nói rằng 2 loại interferon biến đổi hiệu quả SR như nhau, và tương đương với hiệu quả của Rebetron kết hợp. Bên cạnh đó, interferon biến đổi dung nạp tốt hơn Rebetron kết hợp (Xem thêm phần tác dụng phụ ở dưới).

Interferon biến đổi kết hợp với Ribavirin.

Trong nghiên cứu so sánh interferon biến đổi (Peg-Intron A hoặc  Pegasys ) kết hợp với Ribavirin và Rebetron kết hợp, interferon biến đổi kết hợp Ribavirin có hiệu quả hơn, đặc biệt ở bệnh nhân nhiễm genotype 1. Với genotype 1, SR là 45% cho interferon biến đổi kết hợp Ribavirin so với 35% của Rebetron kết hợp. Như mong đợi, kết quả chung ở bệnh nhân genotype 2 hay 3 ở mỗi nhóm điều trị này thì cũng tốt hơn (SR 60% đến 80%). Tuy nhiên, những khác biệt giữa nhóm điều trị bệnh nhân với genotype 2 hay 3  khó khăn để đánh giá hơn bệnh nhân nhiễm genotype 1 ít nhất 2 lý do :

Đầu tiên, tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu này điều trị 48 tuần. (Nhớ là chỉ 24 tuần điều trị Rebetron kết hợp đòi hỏi ở nhóm genotype 2 hay 3). Thứ hai, ở những dân số khác nhau mà kết quả thu được không chấp nhận trong đáp ứng điều trị.

(Theo Bacsigiadinh)

Ai nên được điều trị viêm gan siêu vi C ?

Bất kỳ ai nhiễm viêm gan siêu vi C mạn tính đều là ứng cử viên của liệu pháp kháng virus. Tuy nhiên, với những hiểu biết của chúng ta về nguồn gốc tự nhiên của viêm gan siêu vi C mạn tính, và hiệu quả cũng như tác dụng phụ của liệu pháp kháng virus hiện nay.

Hội nghị phát triển thống nhất NIH khuyến cáo điều trị cho những bệnh nhân có nguy cơ cao tiến đến xơ gan. Ví dụ như những người có tất cả các đặc điểm sau đây :

– ALT tăng hằng định.

– Có thể tìm thấy RNA-HCV.

– Bằng chứng của hoá sợi trên sinh thiết gan.

– Bằng chứng của tổn thương viêm vừa phải và tế bào gan (hoại tử) trên sinh thiết.

Điều này không rõ nếu bệnh nhân có một vài nhưng không có tất cả các tiêu chuẩn này nên được điều trị không.

Do đó, Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) thống nhất chủ trương rằng, bệnh nhân không phù hợp với tất cả tiêu chuẩn đưa ra được điều trị trong một chế độ nghiên cứu. Những nhà cố vấn báo cho những người tham gia nghiên cứu, để tin tức có thể lấy được từ kinh nghiệm điều trị những bệnh nhân này. Ví dụ những bệnh nhân có :ai  nen dieu tri viem gan c

– Xét nghiệm gan bình thường cố định và viêm nhẹ trên sinh thiết gan.

– Xơ gan còn bù (không có dấu hiệu suy gan như vàng da, bụng báng, bệnh não, hay xuất huyết).

– Dưới 18 hay trên 65 tuổi.

– Người đồng nhiễm HIV.

Bệnh nhân xơ gan mất bù (dấu hiệu suy gan mạn) chỉ nên được điều trị trong chế độ nghiên cứu. Ngoài ra, họ nên được theo dõi sát, tốt nhất là được ghép gan.

Những người không nên điều trị với liệu pháp kháng virus bao gồm những người đang dùng thuốc lậu hay rượu, đang bị trầm cảm, tế bào máu thấp, bệnh tuyến giáp không điều trị, bệnh tự miễn, và những bệnh lý nghiêm trọng khác (ví dụ bệnh tim có triệu chứng, cao huyết áp không kiểm soát, hay đái tháo đường), đang có thai, hay đang nhận cơ quan ghép đặc (ví dụ thận).

Về cơ bản, việc quyết định đối với điều trị kháng virus ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C nên được thực hiện với cân nhắc cẩn thận về nguy cơ và lợi ích.

(Theo Bacsigiadinh.com)

Tổng quan về điều trị viêm gan siêu vi C

Chẩn đoán HCV không có nghĩa là bạn phải điều trị. Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) khuyên nên điều trị HCV nếu có:

-Xét nghiệm ARN HCV (+), chứng tỏ có virus trong máu.điều trị viêm gan siêu vi c

-Sinh thiết cho thấy tổn thương gan đáng kể

-Tăng nồng độ men gan analin aminotransferase trong máu.

Cho dù vậy, các bác sĩ vẫn đang tranh cãi về đối tượng cần điều trị. Nếu bạn chỉ có bất thường gan nhẹ, bác sĩ có thể quyết định không điều trị vì nguy cơ lâu dài bị bệnh nặng là rất thấp, và tác dụng phụ của điều trị có thể rất nghiêm trọng.

Mặt khác, vì chưa có cách rõ ràng để biết liệu bạn có bị bệnh gan sau đó hay không, bác sĩ của bạn có thể chọn cách chống lại virus. Nhiều phương pháp điều trị cải tiến và tỷ lệ thành công cao hơn trong việc chống lại viêm gan đôi lúc kiến bác sĩ nghiêng về những phương pháp tích cực hơn.

Cho tới nay, vũ khí tốt nhất để chống lại viêm gan C là interferon, một thuốc ức chế sự nhân lên của virus. Các thuốc interferon dùng để điều trị viêm gan gồm interferon alfa-2b (Intron A), interferon alfa-2a (Roferon-A) và interferon alfacon-1 (Infergen). Nhưng interferon chỉ có tác dụng ở khoảng 20% số trường hợp. Hiện nay, tiêm interferon thường được phối hợp với uống ribavirin (Virazole) – một thuốc kháng virus phổ rộng. Ðiều trị thường mất từ 6 tháng đến 1 năm và thành công ở khoảng 40% số người bị HCV.

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy một thuốc khác, interferon pegyl hóa (PEG), có hiệu quả gấp hai lần interferon thông thường. Vào tháng 1 năm 2001, Cơ quan Quản lý Thuốc và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã cho phép dùng PEG interferon – peginterferon alfa-2B (PEG-Intron) – để điều trị viêm gan C.

Tác dụng phụ của điều trị thuốc gồm các triệu chứng giống như cúm nặng do interferon và giảm hemoglonbin nhất thời (thiếu máu), giảm bạch cầu hoặc tiểu cầu trong máu. Tác dụng phụ lâu dài – xảy ra ở khoảng một nửa số người điều trị interferon và ribavirin – gồm cực kỳ mệt mỏi, lo âu, dễ kích động và trầm cảm. Có một tỷ lệ nhỏ bị loạn thần hoặc có hành vi tự sát.

Vì lý do này, không nên điều trị bằng interferon nếu có tiền sử trầm cảm nặng bị bệnh tuyến giáp chưa được điều trị, thiếu máu hoặc bị bệnh tự miễn, nghiện rượu hoặc ma tuý.

Không may là, nếu điều trị không có hiệu quả hoặc bạn không thể dung nạp được tác dụng phụ, có rất ít cách lựa chọn khác. Nhưng các nhà khoa học đang nghiên cứu việc sử dụng các chất ức chế protease ở người viêm gan C. Ðây cũng là những thuốc điều trị cho người nhiễm HIV. Trong tương lai, cũng có thể điều trị HCV bằng liệu pháp gen

(Theo Moh.gov.vn)

Các phương pháp chẩn đoán bệnh viêm gan C

Thử nghiệm truy tầm HCV thường không được thực hiện, cho nên bạn phải yêu cầu bác sĩ của mình để được thử HCV. Bạn nên chọn một phòng thử nghiệm máu mà thôi để thực hiện tất cả các cuộc thử nghiệm, vì phạm vi của kết quả và sự chính xác của các phòng thử nghiệm máu có thể khác nhau. Nên giữ những bản sao của các kết quả thử nghiệm và sinh thiết (thử mẫu tế bào) của bạn để tham khảo sau này.chẩn đoán bệnh viêm gan C

Các loại thử nghiệm dưới đây sẽ giúp xác định bạn có bị nhiễm HCV hay không, và nếu có, thì tình trạng của cơn bệnh.

Các thử nghiệm kháng thể HCV

– ELISA II là một cuộc thử nghiệm máu đơn giản để phát hiện kháng thể HCV.

– RIBA là cuộc thử nghiệm kháng thể thứ nhì, có thể được dùng sau cuộc thử nghiệm Elisa, để xác nhận sự hiện diện của kháng thể HCV.

Thử nghiệm số lượng siêu vi

Cuộc thử nghiệm đo số lượng HCV lưu truyền trong máu. Ðơn vị đo lường siêu vi HCV là số lượng mỗi mili-lít (ml) máu hoặc đơn vị đo lường tiêu chuẩn được gọi là Ðơn Vị Quốc Tế (International Units). Có 3 loại thử nghiệm số lượng siêu vi là: HCV RNA PCR assay, RNA branched-chain DNA (bDNA), hoặc TMA assay (Transcription Mediated Amplification). Loại thử nghiệm RNA branched-chain DNA (bDNA) là rẻ tiền nhất, nhưng cũng không chính xác cho lắm. Các thử nghiệm về số lượng siêu vi được dùng để xác định HCV cấp tính, chọn cách điều trị thích hợp, và đo lường sự hữu hiệu của thuốc trong việc chữa trị. Chưa có sự xác minh về tương quan giữa số lượng siêu vi và sự phát triển của bệnh HCV.

Thử Nghiệm Phân Ðịnh Loại HCV (Genotype)

Cuộc thử nghiệm phân định loại HCV được dùng để xác định bạn bị nhiễm loại HCV nào. Ðiều này rất hữu ích cho việc quyết định cách chữa trị, như là chọn lựa loại thuốc, và cần điều trị bao lâu.

Thử Nghiệm Chức Năng và Sinh Hóa của Gan

Có một số cuộc thử nghiệm máu để đo lường sức hoạt động của gan. Bảng thử nghiệm gan (hepatic panel) gồm các số đo lường chức năng của gan. Số đo lường phổ thông nhất là ALT và AST (alanine aminotransferase & aspartate aminotransferase – mà trước đây gọi là SGPT và SGOT). ALT và AST là những chất men (enzymes) được tiết vào trong máu khi gan bị hư và thường tăng cao ở người bị nhiễm HCV. Nhiều người có HCV có chỉ số cao của hai loại men gan này, thường là dấu hiệu đầu tiên là họ đã bị nhiễm bệnh. Những cách đo lường khác là ALK và GGT. (alkaline phosphatase & gamma-glutamyl transpeptidase) cũng được sử dụng trong việc thử nghiệm. Những mức độ bất thường có thể biểu lộ tình trạng xơ gan hoặc ống dẫn mật bị nghẹt, cũng như một số trường hợp bất thường khác. Ngoài ra, bác sĩ của bạn có thể đo thời gian đông máu bằng phương pháp đo thời lượng “prothrombin” và mức độ mật vàng (bilirubin). Bilirubin là một sắc tố thường thấy trong máu của người có viêm gan; chất bilirubin cao sẽ gây ra chứng vàng da. Việc dùng thuốc men và rượu cũng có thể làm sai lệch kết quả thử nghiệm máu. Trước khi đi đến kết luận, hãy tham khảo với bác sĩ của bạn.

Sinh thiết gan (Liver Biopsy)

Sinh thiết (hay thử mẫu tế bào) gan được dùng để đo lường mức độ viêm, số lượng sẹo, và tình trạng sức khỏe của gan. Việc này cũng có thể dùng để xác định cách chữa trị.

Cách thức thông thường nhất là làm tê da và bắp thịt rồi nhanh chóng đưa một kim dài và nhỏ vào gan và rút ra để lấy mẫu thử nghiệm. Cách thức này làm nhiều người sợ, nhưng rất hiếm có biến chứng. Nếu bạn lo sợ, hãy yêu cầu bác sĩ cho thuốc an thần nhẹ trước khi làm sinh thiết, và chích thuốc giảm đau sau đó

Viêm gan C có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu

Ðề nghị bác sĩ khám sàng lọc HCV nếu bạn nghĩ mình đã tiếp xúc với virus hoặc có nguy cơ bị bệnh. Nếu bạn được truyền máu trước 1992 từ một người cho mà sau đó người này có xét nghiệm HCV(+), bạn có thể được nhận thư của bệnh viện hoặc ngân hàng máu đề nghị bạn đi khám sàng lọc.

Viêm gan C có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu

Viêm gan C có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu. Ngoài xét nghiệm máu, bác sĩ lập hồ sơ bệnh án và khám thực thể. Bác sĩ cũng có thể khuyên bạn sinh thiết gan, một thủ thuật tương đối ít đau trong đó người ta lấy ra một mẫu nhỏ mô gan để phân tích dưới kính hiển vi.

Trước khi sinh thiết, bạn sẽ được gây tê. Sau đó bác sĩ chọc một kim nhỏ vào gan của bạn để lấy mẫu mô. Sinh thiết gan là an toàn và không gây biến chứng, mặc dù có thể đau hoặc chảy máu một chút sau đó.

Mặc dù sinh thiết không nhất thiết khẳng định chẩn đoán, nó có thể giúp xác định mức độ nặng của bệnh. Nó cũng giúp loại trừ các nguyên nhân khác gây bệnh gan, như viêm gan do rượu hoặc do thuốc, bệnh gan tự miễn hoặc thừa sắt (bệnh nhiễm sắc tố sắt mô bẩm sinh).

(Theo Moh)