Category Archives: Nhồi Máu Cơ Tim

Dự phòng tái phát sau nhồi máu cơ tim

Bệnh nhân nhồi máu cơ tim có nguy cơ tái phát rất cao nếu không được chăm sóc và điều trị tốt sau khi được cứu sống bằng thuốc tiêu sợi huyết, can thiệp hay phẫu thuật bắc cầu nối chủ – vành. Chính vì vậy, ngay khi được xử trí, bệnh nhân cần phải tuân thủ các chỉ định của thầy thuốc và cần đến bệnh viện ngay lập tức nếu có các biểu hiện tái phát.
Những điều bệnh nhân cần biết
Trước khi ra viện, các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) cần được giáo dục về sức khoẻ, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch.

Bệnh nhân và gia đình cần có bảng hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng của thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên  nitroglycerin dưới lưỡi để đảm bảo chắc chắn bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát.

Tất cả bệnh nhân có thừa cân – béo phì cần phải thực hiện chiến lược giảm cân. Nên đo vòng bụng và tính chỉ số khối lượng cơ thể cho các bệnh nhân. Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình từ 18,5 – 24,9 kg/m2. Nếu vòng bụng lớn hơn 90cm ở nam giới và hơn 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hoá và cần phải giảm cân.

Các bệnh nhân cần tránh tái hút thuốc lá ngay trước khi ra viện. Đồng thời phải kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân đái tháo đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống.

Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp.

Nếu bệnh nhân có kèm theo đái tháo đường cần kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C dưới 7%. Nhóm thuốc thiazolidinedion không nên dùng cho các bệnh nhân hồi phục sau NMCTC  bị suy tim độ  III-IV.

Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCTC như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố của bệnh mạch vành nói chung.

Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCTC không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên  tiếp tục dùng khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Các vitamin chống ôxy hoá như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCTC để phòng ngừa các bệnh tim mạch.

 

du phong tai phat

Cần kiểm soát nhịp tim sau khi được xử trí nhồi máu.

Các chỉ định điều trị cần thiết sau nhồi máu cơ tim

Các bệnh nhân hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp nên được theo dõi ít nhất trong 24 giờ để đánh giá nhánh ĐMV gây nhồi máu được mở thông sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết, tắc lại sau can thiệp ĐMV và phát hiện các biến chứng tái thiếu máu. Huyết áp cũng nên được theo dõi liên tục, tần suất phụ thuộc vào tình trạng của từng bệnh nhân.

Bệnh nhân NMCTC phải nhập viện ở đơn vị chăm sóc đặc biệt và theo dõi điện tim liên tục. Mọi bệnh nhân phải cho dùng aspirin (160-325mg) và heparin càng sớm càng tốt. Điều trị bằng thuốc chẹn bêta giao cảm và nitroglycerin, nếu còn đau ngực và không có chống chỉ định.

Heparin trọng lượng phân tử thấp và các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa của tiểu cầu đã làm thay đổi đáng kể phương pháp điều trị hiện nay. Phối hợp các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa với heparin và aspirin cũng làm giảm tỷ lệ biến chứng lâm sàng (tử vong và nhồi máu cơ tim). Vì vậy cả heparin trọng lượng phân tử thấp và ức chế thụ thể glycoprrotein IIb/IIIa được chỉ định cho bệnh nhân hội chứng ĐMV cấp trong đó có nhồi máu cơ tim có nguy cơ cao.

Nên chủ động can thiệp ĐMV sớm ở những bệnh nhân hội chứng ĐMV cấp có nguy cơ cao trừ khi có chống chỉ định. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ trung bình, quyết định điều trị bảo tồn hay can thiệp sớm phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thầy thuốc và nguyện vọng của bệnh nhân.

Còn đối với NMCTC có đoạn ST chênh lên thì tiêu sợi huyết vẫn là chiến lược điều trị chuẩn mực cho các bệnh nhân đến viện sớm và không có chống chỉ định, đặc biệt ở các cơ sở y tế chưa có khả năng can thiệp ĐMV qua da cấp cứu. Tuy nhiên, tái tưới máu bằng can thiệp ĐMV qua da có tiên lượng tốt hơn, đặc biệt là ở những trung tâm tim mạch can thiệp lớn có nhiều kinh nghiệm.

Đối với điều trị tiêu sợi huyết, vấn đề quan trọng nhất là phải dùng thuốc càng sớm càng tốt sau khi khởi phát nhồi máu cơ tim. Heparin được dùng để bổ sung cho điều trị tiêu sợi huyết. Tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu của các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa làm tăng tỷ lệ mở thông nhánh ĐMV thủ phạm gây nhồi máu và duy trì mở thông các động mạch này về lâu dài.

Ngoài những chỉ định lâm sàng, còn phải tính đến tính khả thi và giá thành. Lựa chọn chiến lược điều trị tái tưới máu không chỉ liên quan đến những tiêu chí khoa học mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trang thiết bị máy móc và khả năng của cơ sở y tế.

Cuối cùng, tất cả bệnh nhân phải được tư vấn kỹ lưỡng để thay đổi và điều trị các yếu tố nguy cơ. Đa số bệnh nhân phải dùng lâu dài các thuốc aspirin, thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc statin và một thuốc ức chế men chuyển.

TS. Nguyễn Quang Tuấn

Sự khác nhau giữa nhồi máu cơ tim và suy tim

Công việc của tim là bơm, đẩy máu đi khắp cơ thể, hiểu nôm na là một máy bơm, hút và đẩy dịch. Tim đập không ngừng nghỉ dưới sự điều khiển của các dây thần kinh đặc biệt mà bắt đầu là một xung lực điện cho mỗi nhịp tim, làm cho tim co bóp. Tim được cấu tạo bởi một cơ duy nhất và cũng tự cung cấp máu, cung cấp năng lượng để duy trì nhịp đập.su khac nhau

Nhồi máu cơ tim là gì?

Nhồi máu cơ tim còn được gọi là cơn đau tim, đứng tim (MI). Nó xảy ra khi mạch máu đi tới tim bị nghẽn bất ngờ, gây ra tình trạng thiếu ôxy và làm chết phần này của tim.

Mức độ khốc liệt của nhồi máu cơ tim phụ thuộc vào việc một ống dẫn máu lớn nào đó bị khóa như thế nào và phần nào của cơ tim bị chết.

Nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim?

Phổ biến nhất là một cục máu đông từ đâu đó trôi tới và gây tắc mạch máu. Hiện tượng này thường gặp ở những người lớn tuổi, nam giới, hút thuốc, thừa cân hay có mỡ máu, huyết áp cao.

Suy tim là gì?

Suy tim là hiện tượng tim bị xung huyết và làm cho bắp tim yếu đi, không bơm máu mạnh như bình thường (tình trạng hút đẩy không nhịp nhàng) chứ không phải là ngừng đập hẳn.

Nguyên nhân gây suy tim?

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới chức năng này của tim nhưng phổ biến nhất là sau một cơn nhồi máu cơ tim.

Bởi vì do một phần cơ tim bị chết đi, làm cho áp lực đẩy máu giảm và suy tim phát triển.

Các yếu tố phổ biến khác có thể dẫn tới suy tim là huyết áp cao, dùng nhiều rượu và các vấn đề về van tim.

Hiện tượng tim ngừng đập là gì?

Tim ngừng đập là một hiện tượng xảy ra khi tâm thất bị rung khiến làm cho cơ tim ngưng hoạt động và nếu không được chữa trị ngay tức thì bằng máy khử rung thì sẽ khó tránh được tử vong.

Nguyên nhân gây ra hiện tượng tim ngừng đập?

Bất cứ điều gì, chẳng hạn như một chấn thương đột ngột hay một căn bệnh mãn tính. Nhìn chung, danh sách này là vô tận, cho đến nay vẫn chưa thể hoàn thành.

(Theo Dantri)

Cách phòng chống nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim là bệnh lý nguy hiểm. Nó có thể gây đột tử và là kẻ thù số 1 với quả tim của bạn. Bạn có thể tránh được kẻ thù đó không? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Khi bạn có trách nhiệm với bản thân và sức khỏe của mình, hãy thay đổi ngay những thói quen xấu, điều chỉnh những yếu tố nguy cơ, lúc đó bạn sẽ có nhiều cơ hội tránh được bệnh lý nguy hiểm này. Hãy hành động khi mọi thứ còn chưa quá muộn.kiem tra suc khoe

Kiểm tra sức khỏe thường xuyên

Có hai nhân tố gây nên nguy cơ bệnh mạch vành mà không hề có triệu chứng ở giai đoạn đầu là mỡ trong máu cao và tăng huyết áp. Nhiều người có nguy cơ tiềm ẩn này nhưng vẫn có thể sống bình thường mà không thấy có triệu chứng nào cả. Do đó, cần kiểm tra sức khỏe định kỳ đều đặn để phát hiện những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khi nó còn chưa gây ra bệnh lý nguy hiểm. Từ đó, chúng ta có thể khống chế để giảm thấp nhất nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Lý tưởng nhất là mọi người nên kiểm tra cholesterol toàn phần, cholesterol LDL (cholesterol xấu) và cholesterol HDL (cholesterol tốt) từ độ tuổi 20. Nếu cholesterol toàn phần dưới 200mg/dl và cholesterol HDL trên 35mg/dl, nên kiểm tra lại máu sau 5 năm. Những người có nồng độ cholesterol toàn phần cao nên kiểm tra thường xuyên hơn. Huyết áp cũng nên kiểm tra thường kỳ 2 năm/lần. Bởi nhiều lúc huyết áp tăng lên mà chúng ta không biết được.

Kiểm tra sức khỏe thường kỳ rất quan trọng, đặc biệt đối với những người có yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, đái tháo đường, tiền sử gia đình nhiều người bị nhồi máu cơ tim.

Loại bỏ các yếu tố nguy cơ

Các nghiên cứu cho thấy khi thay đổi lối sống, giảm các yếu tố nguy cơ, bệnh nhân bệnh mạch vành sẽ có cuộc sống lâu dài hơn. Đi khám sức khỏe định kỳ vẫn chưa đủ. Một số thay đổi sau có thể giúp bạn có trái tim mạnh khỏe hơn:

Không hút thuốc lá

Nếu bạn chưa hút thuốc lá thì đừng nên bắt đầu thử. Tránh hút thuốc lá là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe và ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, ung thư phổi và nhiều bệnh lý đe dọa khác.

Giữ cân nặng ở mức độ thích hợp

Tăng cân sẽ kéo theo tăng hàm lượng cholesterol trong máu, triglycerid, huyết áp tăng và dễ bị đái tháo đường, hàm lượng HDL trong máu giảm. Vì vậy, rất quan trọng khi giữ cân nặng của bạn ở mức tốt nhất. Nếu bạn đang bị quá cân, hãy có chương trình giảm cân để có trái tim khỏe mạnh, tránh được bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim.

Ăn thức ăn ít chất béo

Mỡ trong máu thường có xu hướng tăng lên khi tuổi của bạn càng cao. Chế độ ăn ít chất béo và hàm lượng cholesterol thấp sẽ giúp bạn ngăn cản quá trình này. Chế độ ăn sau có thể ngăn ngừa được nhồi máu cơ tim.

– Khống chế loại thức ăn và lượng thức ăn bạn ăn hằng ngày.

– Không nên ăn nhiều thịt, cá và thịt gia cầm trong 1 ngày.

– Cố gắng ăn nhiều hơn các thức ăn như rau, cơm, mì, đậu. Chỉ ăn kèm với số lượng nhỏ thịt, cá hoặc thịt gia cầm.

– Chỉ 5 – 8 thìa cà phê dầu hoặc mỡ dùng để chế biến thức ăn trong 1 ngày.

– Cố gắng chế biến thức ăn ít hoặc không có chất béo như luộc, chần, hạn chế dùng đồ rán.

– Không nên ăn phủ tạng động vật như gan, não, thận, tim …

– Ăn nhiều rau, quả.

Tập thể dục đều đặn

Tập thể dục đều đặn có thể giúp bảo vệ bạn trước bệnh nhồi máu cơ tim. Bất cứ loại thể dục nào cũng cần thiết và nên làm. Cố gắng tập thể dục 3 – 4 lần/tuần, mỗi lần 30 – 60 phút.

Lý tưởng nhất là bạn tập với tần số của tim khoảng 50 – 70% mức gắng sức tối đa của bạn. Mức tối đa này được tính đơn giản là 210 trừ đi tuổi của bạn. Các phương pháp tốt nhất là chạy, bơi, đạp xe và đi bộ. Trước khi tập luyện, tốt nhất bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ của bạn, đặc biệt khi bạn đã vào tuổi trung niên hoặc đã lớn tuổi và có bệnh tim hoặc một bệnh lý nào đó.

Tránh căng thẳng

Căng thẳng có thể làm hại tim hoặc làm tăng nguy cơ mắc bệnh cho bạn, hãy làm gì đó để tránh điều này. Hãy thư giãn một chút trong giờ làm việc, vào ban đêm và trong những ngày nghỉ.

Uống rượu vừa phải

Một số nghiên cứu cho thấy dùng rượu với mức độ vừa phải (1 – 2 cốc/ngày) có thể giúp bảo vệ quả tim của bạn. Tuy nhiên, nếu uống nhiều hơn, điều này sẽ làm hại đến cơ thể. Uống quá nhiều rượu có thể làm tăng huyết áp, tăng cân nặng, tăng triglycerid máu và có thể gây rối loạn nhịp tim. Nếu bạn không uống thì không nên thử. Nếu bạn đang uống, thì nên uống vừa phải và nên bỏ rượu nếu bạn chú ý đến những tác dụng phụ của nó (suy gan, bệnh cơ tim do rượu, tai nạn khi điều khiển xe cộ…).

Với phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai

Thuốc tránh thai có thể sử dụng nhiều năm mà không có tác dụng phụ nào. Tuy nhiên, bạn nên kiểm tra y tế thường xuyên. Hằng năm, bạn nên kiểm tra huyết áp, triglycerid và đường máu.

ThS. Phạm Như Hùng

(Theo Suckhoesoisong)

Nhồi máu cơ tim – Bệnh của mọi lứa tuổi

Nói đến NMCT người ta hay nghĩ đến người cao tuổi nhưng thực tế điều đó có phải chỉ xảy ra ở người cao tuổi hay không? Có gì khác biệt giữa người trẻ và người già đối với căn bệnh này?

nhoi mau co tim moi lua tuoi

Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng hoại tử một vùng tim, hậu quả của thiếu máu cục bộ cơ tim. Biểu hiện chủ yếu của NMCT là cơn đau thắt ngực điển hình: đau nhói bóp nghẹt phía sau xương ức hoặc vùng trước tim, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út.

Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, kéo dài hơn 20 phút và không đỡ khi dùng thuốc giãn động mạch vành (nitroglycerin). Đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau lưng, tay phải hoặc vùng thượng vị. Tuy nhiên có trường hợp bệnh nhân bị NMCT mà không có hoặc ít cảm giác đau: hay gặp ở bệnh nhân tiểu đường hoặc tăng huyết áp. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác: vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp đánh trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn…

Các yếu tố gây ra nhồi máu cơ tim

Nguyên nhân chủ yếu gây NMCT là do vữa xơ động mạch vành (ĐMV). Mảng xơ vữa làm giảm khấu kính lòng mạch và dần dần gây tắc mạch. Tuy nhiên, mảng xơ vữa có thể không phát triển từ từ mà có thể bị nứt, vỡ ra đột ngột.

Khi mảng xơ vữa bị vỡ ra, quá trình hình thành cục huyết khối được khởi động. Quá trình này được bắt đầu với các tế bào máu đặc hiệu, gọi là tiểu cầu, tập trung tại vị trí mảng xơ vữa bị nứt. Cục máu đông có thể được hình thành ngay trên mảng xơ vữa bị nứt ra đó và gây tắc đột ngột ĐMV.

Bên cạnh đó thì tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, stress, các bệnh bẩm sinh gây tắc mạch máu cũng dẫn đến căn bệnh này.

Bệnh không chỉ ở người cao tuổi

Đối với người cao tuổi, NMCT là bệnh rất hay gặp, nguyên nhân chủ yếu là do vữa xơ động mạch ở họ đã diễn ra nhiều năm. Nhưng gần đây, số người dưới 40 tuổi bị NMCT phải nhập viện đang tăng lên hàng năm, chủ yếu là do huyết khối trong lòng động mạch. Biểu hiện của NMCT ở người cao tuổi và người trẻ là như nhau nhưng nguyên nhân thì có những điểm khác biệt.

Sự xuất hiện huyết khối trong lòng động mạch ở những người trẻ tuổi thường là do stress, béo phì, nghiện thuốc lá nhiều năm liền, làm khẩu kính lòng động mạch bị tắc nghẽn. Nếu như ở người cao tuổi, vấn đề vữa xơ động mạch diễn ra từ từ trong nhiều năm liền làm cho cơ tim của họ có sự thích nghi nhất định với tình trạng thiếu máu và thường họ ý thức được về bệnh tật nên không bị chủ quan.

Ngược lại, ở người trẻ tuổi, lòng động mạch đang rất sạch và trơn láng đột ngột xuất hiện huyết khối làm tắc nghẽn mạch máu nuôi cơ tim. Bản thân cơ tim ở người trẻ tuổi cũng chưa hề trải qua sự thiếu máu dần dần như người gài làm cho nó không kịp thích nghi và bị hoại tử nhanh chóng. Nguy hiểm hơn cả là người trẻ thường chủ quan không nghĩ mình mắc phải căn bệnh này nên dễ nguy hiểm đến tính mạng.

Cũng cần phải nói đến nguy cơ bẩm sinh dẫn đến tình trạng NMCT ở người trẻ tuổi đó là sự thiếu hụt protein C và S. Trong máu thì protein C và S được coi là các yếu tố chống lại quá trình đông máu, vì một lý do bất thường nào đó mà bẩm sinh một số ít người không có các thành phần này trong máu. Khi đó sẽ gây tăng đông trong máu dẫn đến tắc mạch nói chung, viêm tắc tĩnh mạch hay gặp nhất và một số ít bị NMCT.

Nếu một bệnh nhân bị viêm tắc tĩnh mạch nhập viện, các bác sĩ thường phải kiểm tra xem có thiếu 2 yếu tố này hay không để có hướng điều trị thích hợp. Để bổ sung sự thiếu hụt 2 loại protein này, người ta sử dụng thuốc chống đông, một số trường hợp phải dùng suốt đời.

NMCT là tình trạng phải cấp cứu

Tất cả bệnh nhân NMCT đều được đặt trong tình trạng cấp cứu. Ngay sau khi bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện, phải thực hiện điều trị tái tưới máu ĐMV ngay cho bệnh nhân bằng thuốc, phẫu thuật bắc cầu nối chủ – vành hoặc can thiệp tim mạch. Đa số bệnh nhân phải dùng lâu dài các thuốc aspirin, thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc statin và một thuốc ức chế men chuyển.

Những người đặc biệt chú ý đến nguy cơ NMCT không phân biệt tuổi tác là người có vữa xơ động mạch, béo phì, tăng huyết áp, hút thuốc lá nhiều năm, hay uống rượu, chịu nhiều áp lực công việc như người làm kinh doanh, người bị stress, trong gia đình có người bị NMCT… Những đối tượng này nếu thấy biểu hiện của bệnh cần được đưa đến bệnh viện ngay để được cấp cứu kịp thời.

Muốn phòng bệnh, mọi người cần kiểm soát cân nặng, ăn nhiều rau quả, ít muối, hạn chế mỡ, chăm tập luyện thể thao, có cuộc sống tinh thần thoải mái và tuyệt đối không hút thuốc lá./.

(Theo Suckhoedoisong

Nhồi máu cơ tim: Không phải là tuyệt vọng!

Nhồi máu cơ tim là bệnh lý nguy hiểm vì nó là nguyên nhân hàng đầu gây đột tử. Dù là bệnh lý nguy hiểm, nhưng nhồi máu cơ tim không có nghĩa là đã kết thúc cuộc sống mà thực tế nhiều bệnh nhân vẫn có thể sống khỏe mạnh, vậy làm thể nào để có thể chung sống với nó. Vì chúng ta hiểu rằng nếu chúng ta biết nhiều hơn, thì chúng ta sẽ cảm thấy tốt hơn và ít lo lắng về nó nhiều hơn.

Nhồi máu cơ tim là gì?

Nhồi máu cơ tim có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có thể lúc nghỉ, lúc làm việc, lúc bạn đang vui chơi. Nhồi máu cơ tim xảy ra rất đột ngột, nhưng thực ra nó là cả một quá trình diễn ra trong nhiều năm. Nhồi máu cơ tim là hậu quả của quá trình xơ vữa của động mạch vành. Sự hình thành của mảng xơ vữa sẽ phát triển theo thời gian làm cho thành động mạch hẹp lại và làm cho dòng máu chảy khó khăn hơn. Nếu cục máu đông hình thành ở chỗ mạch máu bị hẹp, nó sẽ chặn dòng máu lại không cho máu chảy xuống vùng cơ tim phía dưới. Nó sẽ gây ra nhồi máu cơ tim cho bạn.

 

do dien tim

Đo điện tim cho bệnh nhân tại Viện Lão khoa.

 

Bạn sẽ cảm thấy gì sau nhồi máu cơ tim?

Sau khi bạn bị nhồi máu cơ tim, bạn có thể có rất nhiều các cảm xúc khác nhau. Có 3 loại cảm xúc thường gặp nhất là lo lắng, giận dữ và trầm cảm.

Những tâm trạng này của bạn sẽ thay đổi qua ngày tháng. Suy nghĩ của bạn sẽ thể hiện tâm trạng của bạn. Đừng làm cho tất cả trở nên trầm trọng. Hãy tập trung thư giãn. Đừng cho rằng không có gì là sai trái. Hãy tâm sự với người mình tin tưởng. Thời gian sẽ làm cho bạn hết những tâm trạng này.

Khi nào bạn có thể đi làm lại được sau nhồi máu cơ tim

Khoảng 80-90%, người sau nhồi máu có thể trở lại làm việc sau 2-3 tháng. Thường thì bạn có thể đi làm lại công việc cũ của mình. Dĩ nhiên, nó phụ thuộc vào 2 điều: quả tim của bạn không bị tổn thương quá nhiều và công việc của bạn không đòi hỏi quá nhiều việc gắng sức. Nhiều bạn đã thay đổi những công việc hoặc thậm trì còn không đi làm. Nhưng điều này nhiều khi là không cần thiết cho bạn.

Bạn có thể tập thể dục như thế nào?

Phần lớn những người đã hồi phục sau nhồi máu cơ tim đều có thể đi bộ, đạp xe đạp, đi bơi hoặc hoạt động những mức gắng sức tương tự mà không có vấn đề gì. Tập thể dục là có lợi và nên làm ở tất cả bệnh nhân có bệnh tim. Không nên tập luyện nếu bạn chưa bàn luận với bác sĩ của bạn về mức độ và loại hình tập luyện cho bạn.

Bạn có thể còn được uống rượu không?

Bạn có thể uống rượu nhưng chỉ ở mức trung bình. Tốt nhất là uống rượu vang đỏ. Chỉ nên uống 30-60 ml rượu/1 ngày hoặc 1 cốc bia 300 ml/1 ngày. Nhưng nếu bạn định giảm cân thì nên nhớ rượu là thức uống có hàm lượng calo cao.

Chế độ ăn của bạn như thế nào?

Sau đây là những lời khuyên cho chế độ ăn của bạn.

– Hạn chế ăn thịt, cá và thịt gia cầm.

– Cố gắng ăn nhiều hơn các thức ăn như rau, cơm, mỳ, đậu. Chỉ ăn kèm với số nhỏ thịt, cá hoặc thịt gia cầm.

– Hạn chế dùng dầu hoặc mỡ dùng để chế biến thức ăn.

– Cố gắng chế biến thức ăn ít hoặc không có chất béo. Như luộc, trần, nướng ít nên dùng các biện phát dùng nhiều dầu.

– Không nên ăn phủ tạng động vật như gan, não, thận, tim…

– Ăn nhiều rau, quả.

Sử dụng thuốc như thế nào?

Thường là thuốc sử dụng sẽ do thầy thuốc quyết định. Người bệnh nên theo thầy thuốc của mình. Các thuốc thường dùng sẽ là các loại thuốc sau:

Thuốc chẹn bêta. Các thuốc chẹn bêta hay được sử dụng ở nước ta là propranolol (inderal), atenolol (tenormin), metoprolol (betaloc), bisoprolol (concor) … Các thuốc này có thể gây nhịp tim chậm. Thuốc chống chỉ định ở bệnh nhân hen phế quản. Thuốc cũng có thể gây ra lạnh chân và tay, mất ngủ, giảm khả năng quan hệ tình dục. Thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến đường huyết nên cẩn thận theo dõi đường huyết và chỉnh liều thuốc nếu bạn đang có đái tháo đường.

Thuốc ức chế men chuyển. Các thuốc thường dùng là captopril (capoten), peridopril (coversyl), enalapril (renitec), lisinopril (zestril). Các thuốc này thường hay gây ho. Nó cũng có thể gây ban đỏ da, phù niêm, mất cảm giác thèm ăn, khô miệng.

Thuốc ức chế thụ thể. Các thuốc thường dùng là telmisartan (micardis), lorsartan (cozar). Thuốc này khắc phục được triệu chứng ho của thuốc ức chế men chuyển. Nhưng nó vẫn có những tác dụng phụ như phù niêm, khô miệng…

Thuốc chẹn kênh canxi. Các thuốc thường dùng là tildiem… Các thuốc này hay gây nhịp tim nhanh, phù mắt cá, đau đầu, chóng mặt, táo bón…

Thuốc chống đông máu. Các thuốc chống đông là rất quan trọng cho bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Các thuốc thường dùng là aspirin và clopidogrel (plavix). Nên chú ý biến chứng chảy máu dạ dày ở những bệnh nhân dùng thuốc này.

Thuốc hạ mỡ máu. Statin làm giảm cholesterol toàn phần và LDL (loại cholesterol xấu). Các biệt dược hiện có tại nước ta là lipitor (atorvastatin), crestor (rovastatin), zocor (simvastatin).

(Theo Giaoducsuckhoe)

Sốc tim trong nhồi máu cơ tim

Sốc tim (cardiogenic shock) chỉ là một trong nhiều loại sốc khác nhau. Ước tính trong khoảng 1 triệu bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp ở Mỹ mỗi năm thì có tới 70.000 – 150.000 bệnh nhân bị sốc tim. Ngày nay mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc điều trị NMCT nhưng nếu NMCT mà đã có sốc tim thì tỷ lệ tử vong vẫn đặc biệt cao (60 – 80%).soc nhoi mau co tim

NMCT là nguyên nhân hàng đầu gây sốc tim

Sốc tim là tình trạng giảm cung lượng tim không đáp ứng được nhu cầu ôxy của các mô cơ thể.

Chẩn đoán sốc tim gồm: huyết áp tâm thu dưới 80 mmHg khi không có mặt các thuốc vận mạch hoặc dưới 90 mmHg khi có mặt các thuốc vận mạch và ít nhất kéo dài trên 30 phút; giảm cung lượng tim mà không liên quan đến giảm thể tích tuần hoàn; giảm tưới máu mô: thiểu niệu (nước tiểu < 30 ml/giờ), co mạch ngoại vi, rối loạn tâm thần.

NMCT cấp là nguyên nhân hàng đầu của sốc tim đặc biệt là nhồi máu trước rộng vì có một vùng cơ tim lớn bị hoại tử.

Các nguyên nhân khác có thể là do: hở hai lá cấp do đứt dây chằng trong NMCT hoặc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Thủng vách liên thất cấp trong NMCT. Viêm cơ tim cấp. Giai đoạn cuối của bệnh cơ tim giãn. Các bệnh van tim nặng (hở van hai lá, hở van động mạch chủ …), ép tim cấp. Rối loạn nhịp nặng. Một số trường hợp sau mổ tim phổi nhân tạo.

Bệnh thường gặp ở những người già và những người mắc bệnh đái tháo đường, người có tiền sử NMCT, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh mạch máu não, xơ vữa nhiều mạch…

Dấu hiệu của sốc tim

Bệnh nhân xanh tái, đau ngực, buồn nôn và nôn, khó thở, nổi vân tím, da lạnh, thờ ơ ngoại cảnh hoặc rối loạn tâm thần, lú lẫn mất định hướng, mạch nhanh, huyết áp tụt, vã mồ hôi, ngất…

Tiền sử có thể có dấu hiệu nhiễm khuẩn mới xảy ra. Có thể có rối loạn nhịp nặng nề, nhịp tim có thể nhanh hoặc chậm, tĩnh mạch cổ nổi phồng, phù ngoại vi có thể có nếu trước đó bệnh nhân có suy tim.

Mạch đảo (chìm hoặc mất khi hít vào), bóng tim to trên Xquang. Nghe tim tiếng mờ, có thể phát hiện được tổn thương van tim. Gan to. Có thể có rối loạn nhịp thở, ho ra máu, thiểu niệu…

Các biện pháp xử trí

Nhanh chóng xác định tình trạng sốc tim của bệnh nhân, loại trừ các nguyên nhân khác gây ra huyết áp thấp. Bệnh nhân cần được điều trị tại các chuyên khoa tim mạch hoặc ở khoa cấp cứu, điều trị tích cực.

Nếu bệnh nhân tự thở tốt có thể cho thở qua đường mũi, nếu bệnh nhân có rối loạn nhịp thở hoặc suy hô hấp nặng thì cần đặt nội khí quản và cho thở máy đúng chế độ. Thiết lập một đường truyền tĩnh mạch.

Đặt catherter tĩnh mạch trung tâm theo dõi, tốt nhất là có thiết bị Swan-Ganz để theo dõi cung lượng tim và áp lực động mạch phổi. Theo dõi bão hoà ôxy động mạch và lượng nước tiểu (đặt thông tiểu).

Đảm bảo tốt thể tích tuần hoàn sao cho áp lực nhĩ phải từ 10-14 mmHg và PAWP từ 18-20 mmHg. Kiểm soát tốt các rối loạn nhịp tim kèm theo nếu có (nhanh thất: sốc điện, nhịp chậm quá: đặt máy tạo nhịp). Kiểm soát các rối loạn thăng bằng kiềm toan và nước điện giải.

Trong điều trị sốc tim, theo dõi huyết động là yếu tố quyết định để điều chỉnh và can thiệp kịp thời.

Điều trị nội khoa trong các trường hợp sốc tim

Dobutamine: Là một catecholamin tổng hợp, có tác làm tăng sức co bóp cơ tim và tăng nhịp tim phần nào, ít ảnh hưởng đến co mạch, loạn nhịp và dòng máu đến thận. Là thuốc lựa chọn hàng đầu trong điều trị sốc tim, chỉ định tối u khi huyết áp còn > 80mmHg. Liều dùng: 2 – 5 micrôgam/kg/phút.

Các thuốc giãn mạch: Các thuốc này chỉ dùng khi đã duy trì được con số huyết áp ở mức ổn định. Các thuốc này gây giãn mạch nên làm giảm tiền gánh và hậu gánh cho tim, do đó rất có lợi khi bị NMCT cấp hoặc các suy tim cấp kèm theo. Các thuốc thường dùng là: nitroglycerin dạng truyền hoặc nitroprussiad với liều bắt đầu từ 10 micrôgam/phút.

Các thuốc trợ tim: Không nên dùng digitalis trong NMCT cấp có sốc tim dù có suy thất trái nặng vì thuốc này làm tăng nguy cơ bị loạn nhịp và tăng tỷ lệ tử vong.  Trong các trường hợp khác khi có suy tim do bệnh van tim hoặc bệnh cơ tim mà có kèm rung nhĩ nhanh thì digitalis rất nên dùng. Các thuốc làm tăng sức co bóp cơ tim do ức chế phosphodiesterase (milrinone, amrinone) có thể dùng trong trường hợp có suy tim nặng.

Các thuốc lợi tiểu làm giảm áp lực đổ đầy thất trái và nên dùng khi có suy tim mà có tăng khối lượng tuần hoàn và đã khống chế được huyết áp. Thường dùng là furosemide, bumetanid tiêm tĩnh mạch.

Các biện pháp can thiệp cấp cứu

Bơm bóng ngược dòng trong động mạch chủ (ĐMC): Dùng một quả bóng to và dài đặt trong ĐMC từ đoạn trên của ĐMC xuống cho đến tận ĐMC bụng trước chỗ chia ra động mạch chậu.

Việc bơm bóng và làm xẹp nhờ khí heli do một máy bơm ở ngoài nối với bóng và làm việc theo chu chuyển của tim. Bóng sẽ được bơm phồng lên trong thời kỳ tâm trương và làm xẹp đi trong thời kỳ tâm thu, do vậy sẽ làm tăng dòng máu đến động mạch vành (ĐMV) trong thời kỳ tâm trương và chủ yếu làm giảm áp lực hậu gánh trong kỳ tâm thu nên làm giảm gánh nặng cho tim.

Chống chỉ định khi có hở chủ nặng, tách thành ĐMC, bệnh lý mạch ngoại vi. Các nghiên cứu cho thấy, từ khi ra đời loại bóng bơm này đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do sốc tim.

Điều trị nguyên nhân

Nếu do NMCT cấp: Khi sốc tim xảy ra thì các biện pháp tái tưới máu ĐMV càng tỏ ra cấp thiết: đó là các biện pháp dùng thuốc tiêu sợi huyết; Can thiệp ĐMV qua da hoặc phẫu thuật làm cầu nối chủ – vành.

Nếu sốc tim do các nguyên nhân khác cần được điều trị tích cực theo nguyên nhân: Bệnh nhân có ép tim cấp phải xác định và chọc dịch ngay. Bệnh nhân có bệnh van tim cần được phẫu thuật sửa hoặc thay van tim. Viêm cơ tim cấp hoặc bệnh cơ tim vẫn còn là vấn đề nan giải, việc điều trị còn nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn là điều trị triệu chứng.

Trong nhiều trường hợp người ta tiến hành chạy máy tim phổi nhân tạo (Hemopump) để cấp cứu những trường hợp sốc tim và cho kết quả tốt.

BS. Nguyễn Lê Phương

Ai dễ bị nhồi máu cơ tim?

Những yếu tố dưới đây có thể cho bạn biết nguy cơ mắc chứng nhồi máu cơ tim trong vòng 10 năm tới.ai bi nhoi mau co tim

Tuổi tác và giới tính: Tỉ lệ người mắc bệnh tim thường tăng lên cùng với tuổi tác, nam giới là sau tuổi 45, nữ giới là sau tuổi 55.

Hút thuốc: Nếu bạn đã hút bất kỳ điếu thuốc nào trong vòng 1 tháng qua thì bạn thuộc nhóm dễ mắc nhồi máu cơ tim. Bỏ thuốc là bước quan trọng nhất để giảm thiểu nguy cơ.

Huyết áp tâm thu: Huyết áp tâm thu là số đầu tiên trong chỉ số về huyết áp mà bạn nhận được từ tay bác sĩ. Ví dụ: nếu bác sĩ ghi 120/80 thì huyết áp tâm thu của bạn là 120.

Dùng thuốc huyết áp: Các loại thuốc dùng trong điều trị huyết áp cao bao gồm: diuretics, angiotensin-converting enzyme (ACE) inhibitors, angiotensin II receptor blockers (ARBs), beta-blockers, calcium channel blockers, and direct renin inhibitors.

Chỉ cần sử dụng 1 trong các loại thuốc trên là bạn thuộc diện dễ nhồi máu cơ tim.

HDL cholesterol: HDL (high-density lipoprotein) là loại cholesterol “tốt” bởi vì nó giúp ngăn ngừa cholesterol xấu “bám” vào thành mạch. Mức HDL càng cao thì càng tốt và ở mức 60 mg/dL trở lên là đủ để phòng ngừa các bệnh tim mạch. Mức HDL dưới 40 mg/dL thì bạn thuộc nhóm có nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Cholesterol chung: Là toàn bộ các loại cholesterol trong huyết mạch. Mức cholesterol chung này càng cao thì bạn càng có nguy cơ mắc bệnh tim. Nếu ở mức 240 mg/dL trở lên, bạn có nguy cơ mắc bệnh tim cao gấp 2 lần so với những người có mức cholesterol dưới 200 mg/dL. Ít hơn 200 mg/dL thì nguy cơ mắc bệnh tim càng giảm thiểu.