Category Archives: Dinh Dưỡng

Nước cà rốt có tác dụng bổ dưỡng và chữa bệnh


nuoc ca rot
Cà rốt là một trong những thực phẩm rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin. Ngay từ xưa, các y thư cổ đã tìm hiểu, ghi chép và hết lời ca ngợi công dụng của cà rốt. Ví dụ như sách Bản thảo cương mục viết: “Hồ la bốc hạ khí bổ trung, lợi hung cách tràng vị, an ngũ tạng, lệnh nhân kiện thực” ( Cà rốt có tác dụng hạ khí bổ trung, làm lợi cho cơ hoành và tràng vị, làm yên ngũ tạng và ăn khỏe); Sách Y lâm cải yếu cho rằng cà rốt có khả năng “Nhuận thận mệnh, tráng nguyên dương, noãn hạ bộ, trừ hàn thấp,. công dụng tự sà sàng tử” (Nhu nhuận tạng thận, làm khỏe dương khí, ấm hạ bộ, trừ hàn thấp… công dụng giống như sà sàng tử); Sách Nhật dụng bản thảo xem cà rốt là thứ thuốc “Khả trị liệu dạ manh, dinh dưỡng bất lương, tiểu nhi dưỡng cốt bệnh, thực dục bất chấn, nhãn can táo chứng đẳng” (Có thể chữa chứng quáng gà, suy dinh dưỡng, trẻ em còi xương, không muốn ăn, khô tròng mắt)…

Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, nhiều người chỉ dùng cà rốt dưới dạng xào nấu, làm dưa góp, nộm hoặc mứt mà chưa biết cách tạo ra những loại đồ uống tươi mát, thơm ngon và tiện lợi – Vừa có tác dụng giải khát bổ dưỡng, lại vừa có khả năng phòng chống bệnh tật mà thành phần chủ yếu là nước ép cà rốt đơn thuần hoặc phối hợp thêm với một vài loại rau quả khác. Dưới đây xin được giới thiệu một số công thức điển hình để độc giả có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Công thức 1: Cà rốt 150g, mật ong 50g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái thành miếng nhỏ rồi dùng máy ép lấy nước (nếu không có máy ép thì giã thật nát rồi dùng vải bọc lại vắt lấy nước cốt), cho mật ong và chế thêm nước vừa đủ, quấy đều rồi uống. Dịch thể thu được có màu quất chín rất hấp dẫn, mùi vị thơm ngon một cách tự nhiên. Có công dụng bổ dưỡng, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, được xem là một trong những đồ uống giúp phòng chống bệnh cao huyết áp rất tốt.

Công thức 2: Cà rốt 150g, táo tây (loại táo quả to nhập từ Trung Quốc hoặc châu Âu) 150g, nước ép chanh 15ml, mật ong 10ml. Cà rốt và táo rửa sạch, thái miếng rồi dùng máy ép lấy nước (với táo nên ép ngay vì để lâu sẽ bị biến màu, nếu cần thì ngâm trong dung dịch nước muối 2-3%), cho mật ong và nước chanh vào quấy thật kỹ và uống hàng ngày. Ðây là loại thức uống giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng nâng cao sức đề kháng và giúp cơ thể phục hồi sức khỏe rất tốt.

Công thức 3: Cà rốt 250g, dâu tây 250g, nước ép chanh 5ml, đường phèn 2-3 miếng. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái miếng; Dâu tây rửa sạch, bỏ cuống. Dùng máy ép hai thứ lấy nước cốt, hòa với đường phèn và nước chanh, chia uống vài lần trong ngày. Công thức này rất thích hợp cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, đái tháo đường, táo bón mạn tính, phụ nữ da thô và khô…

Công thức 4: Cà rốt 500g, lê tươi 500g, nước chín để nguội 1.000ml, mật ong 20ml. Lê rửa sạch để ráo nước, ngâm với nước muối 3% trong 15 phút, sau đó thái miếng, dùng máy ép lấy nước; Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ thái miếng, dùng máy ép lấy nước; Hòa hai thứ nước ép lại với nhau, chế thêm mật ong, quấy đều rồi chia uống vài lần trong ngày. Ðây cũng là một loại đồ uống rất giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng cường thân kiện lực, bồi bổ sức khỏe, làm đẹp da và râu tóc, phòng chống tích cực bệnh lý ung thư…, đặc biệt thích hợp cho những người ở tuổi trung và lão niên.

Công thức 5: Cà rốt 100g, mía 500g, chanh quả 80g, nước chín để nguội vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái miếng, đem hầm thật nhừ, đánh nhuyễn rồi dùng vải lọc lấy nước; Mía róc vỏ, chẻ nhỏ, dùng máy ép lấy nước; Hòa nước cà rốt và nước mía với nhau, vắt chanh, quấy đều rồi chia uống vài lần trong ngày. Dịch thể thu được có màu hồng vàng, mùi thơm vị ngọt, dùng làm nước giải khát và bổ dưỡng khá tốt. Theo các nhà dinh dưỡng học Trung Quốc, loại đồ uống này có tác dụng phòng chống ung thư.

Công thức 6: Cà rốt 250g, quất 100g, chuối tiêu chín 150g, đường phèn vài miếng. Cà rốt rửa sạch, cạo vỏ, thái miếng, dùng máy ép lấy nước; Quất vắt lấy nước cốt; Chuối tiêu bóc vỏ, đánh nhuyễn rồi đổ nước cà rốt và nước quất vào, quấy thật đều, chế thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Loại nước này có mùi thơm khá đặc biệt, dễ uống và giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt thích hợp cho những người bị cao huyết áp và chán ăn.

Công thức 7: Cà rốt 1.000g, trám tươi 250g, đường trắng vừa đủ. Cà rốt rửa sạch, thái chỉ; Trám bỏ hạt, thái lát mỏng; Hai thứ đem ép lấy nước rồi đun sôi lên là được, chế thêm đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Ðây là loại nước giải khát và bổ dưỡng rất hữu ích, đặc biệt thích hợp cho những người bị viêm họng, viêm phế quản, viêm amydal, viêm gan…

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, cà rốt rất giàu chất dinh dưỡng, ngoài protid, lipid, glucid và chất xơ, còn chứa nhiều nguyên tố vi lượng và các vitamin, trong đó hàm lượng carotene là cao nhất (trong 100g cà rốt có tới 3,62mg carotene). Về tác dụng dược lý, cà rốt có khả năng điều tiết cơ năng sinh lý của cơ thể, tăng cường thể chất, nâng cao năng lực miễn dịch, kháng khuẩn, giải độc, làm hạ đường máu, dự phòng tích cực các bệnh lý do thiếu vitamin A, cao huyết áp, vữa xơ động mạch, đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh cà rốt còn có tác dụng chống lão hóa và dự phòng tích cực bệnh lý ung thư. Ðiều đó cho thấy – cái tên “Tiểu nhân sâm” mà dân gian đặt cho củ cà rốt là hết sức xứng đáng.?

 

Tác giả : Thạc sĩ HOÀNG KHÁNH TOÀN

Advertisements

Tại sao phải ăn uống hợp lý và giữ cân nặng phù hợp?

Nhu cầu Na+ ở trẻ em và người lớn £ 200mg, trong khi, thông thường, hàng ngày chúng ta ăn vào 4.000 – 6.000mg (tương đương 10g-15g muối, lượng Na+ chiếm 40% trong NaCl) tức là cao hơn nhiều so với nhu cầu.Việc tiêu thụ quá nhiều muối còn dẫn đến một số bất lợi khác đối với sức khỏe như :

che-do-an-giup-giam-huyet-ap
· Giữ nước trong các bệnh suy tim, thận nhiễm mỡ.
· Gây phù chu kỳ , phù trước kỳ kinh, phù vô căn.
· Tăng co thắt, kích thích cơn suyễn.
· Liên quan đến ung thư dạ dày .
· Tăng thải Ca++ qua thận, tăng nguy cơ loãng xương.

Do vậy việc giảm lượng muối (Na+) ở người cao huyết áp luôn được khuyến cáo ngay ở giai đoạn đầu điều trị không dùng thuốc.

Dư thừa cân nặng cũng đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu với tỉ lệ gia tăng khắp mọi nơi. Tại Mỹ, với tỉ lệ người dư thừa cân nặng chiếm khoảng 50% dân chúng và là nguyên nhân của 20-30% trường hợp cao huyết áp.

nấm

Giá trị dinh dưỡng của nấm

Thế giới nấm rất phong phú và đa dạng, có loại nấm dùng để chế biến món ăn, có nấm dùng làm thuốc và có không ít loại nấm độc hại có thể gây tử vong. Nên dùng nấm, bạn nên hiểu rõ công dụng từng loại nấm.

Nấm là thực phẩm có chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt trong nấm cóc chứa thành phần protein cao hơn so với các loại củ, quả tươi khác. Trong 100g nấm tươi có chứa khoảng 50%. Những vitamin và chất khoáng hiện hữu trong nấm phải kể đến là vitamin B2, B12, manhê, canxi… và một số các axít amin mà tự cơ thể không thể tổng hợp được.

Các loại nâm

Nấm rơm
Có hình dạng tròn, thường có hai màu là trắng và trắng xám. Cánh của nấm xốp, giòn và có nhiều lớp. Đây là loại nấm được sử dụng rộng rãi trong chế biến món ăn nhờ có giá trị dinh dưỡng cao. Nấm rơm có vị ngọt, tính mát, rất bổ dưỡng đối với những người có bệnh cao huyết áp, rối loạn lipid trong máu, xơ vữa động mạch, tiểu đường, ung thư và các bệnh có liên quan đến bệnh lý mạch vành tim. Có thể chế biến nấm rơm để ăn hoặc kết hợp với các nguyên liệu khác để làm món ăn bài thuốc.
Nấm hương
Ăn nấm hương giúp điều hòa khí huyết, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch cơ thể, ngừa sỏi mật, giảm cholesterol trong máu, ức chế tế bào gây ung thư, và kích thích hoạt động của hệ tiêu hóa. Nấm hương còn là thực phẩm lý tưởng đối với bệnh nhân thiếu máu do thiếu chất sắt, huyết áp cao, tiểu đường và trẻ nhỏ bị suy dinh dưỡng. Đặc biệt, chất Ergosterol có trong nấm hương dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển hóa thành vitamin D2 giúp cơ thể đề phòng và chữa bệnh còi xương rất hiệu quả.
Nấm bào ngư
Có màu xám, nâu thẫm hoặc nâu nhạt. Thịt nấm có màu trắng và dày. Nấm bào ngư thích hợp với những bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa và có công dụng phục hồi chức năng của lá gan.
Nấm mỡ
Nấm mỡ chứa nhiều chất đạm, các nguyên tố vi lượng và axít amin, có công dụng giảm lượng đường và cholester trong máu, ngừa bệnh ung thư và cải thiện chức năng của lá gan. Nấm mỡ cũng thích hợp với sản phụ thiếu sữa, người chán ăn, viêm phế quản của nấm mỡ và tạo ra được hương vị thơm ngon, nấm mỡ cần được chế biến kết hợp với nhiều loại thực phẩm khác.
Nấm mèo đen
Trong nấm mèo chứa nhiều protit, vita-min và chất khoáng, rất tốt đối với người mắc bệnh cao huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não bộ. Nấm mèo còn có công dụng ức chế quá trình ngưng tụ tiểu cầu, chống đông máu do nghẽn mạch và ngăn ngừa sự hình thành các mảng xơ vữa trong lòng huyết quản. Với tính năng lượng huyết và hoạt huyết, nấm mèo đen còn là thực phẩm quí giá có tác dụng giảm cholesterol trong máu và cải thiện hoạt động tuần hoàn máu.
Nấm kim châm
Trong nấm kim châm chứa nhiều vita-min, axit amin, chất lysine có công dụng cải thiện chiều cao và trí tuệ của trẻ nhỏ.
nấm
Chọn lựa và bảo quản Nấm
Nấm ngon thường có tai nấm dày và đầy đặn. Với nấm tươi, cần chọn nấm có màu sắc tươi mới, mùi thơm hấp dẫn. Không chọn mua nấm bị dập nát, có mùi ôi hư. Nên đặt nấm ở nơi thoáng mát, tránh buộc kín trong túi nylon. Để bảo quản nấm được lâu, nên nhặt sạch phần rơm rác bám dính trên nấm và cắt bỏ gốc, trụng sơ qua sau đó ngâm trong nước lạnh, rửa sạch và cho vào ngăn mát tủ lạnh.
Với nấm khô, nên chọn loại chắc tay, không bị đứt gãy, không có vết mốc và chọn những nhãn hiệu có uy tín. Nên bảo quản nám nơi thoáng mát, không nên cho vào túi nylon buộc kín. Khi cần sử dụng, ngâm nấm trong nước ấm khoảng 10 phút đẻ nấm nở hẳn, sau đó rửa sạch và cắt bỏ chân nấm.
Phân biệt giữa nấm thường và nấm độc
Nấm độc
Thường có nhiều màu sắc khác nhau, một số loại nấm độc có màu sắc rất bắt mắt và sặc sỡ. Những nơi ẩm ướt và bị ô nhiễm là nơi trú ngụ của nấm độc. Trong nấm độc có chứa nhiều nước và nước có màu trắng đục giống như sữa bò. Rễ của nấm độc có khuynh hướng thay đổi màu sắc khi chế biến trong vật dụng bằng bạc, nấm độc có thể biến vật dụng thành màu đen. Nếu ăn trúng nấm độc, ở mức độ nhẹ sẽ bị nôn mửa, toàn thần mệt mỏi, đi tiêu nhiều lần trong ngày. Ở mức độ nặng có thể trụy tim mạch hoặc tử vong. Do vậy, cần hết sức lưu ý để tránh nhầm lẫn giữa hai loại nấm.
Nấm thường
Thường chỉ có màu trắng hoặc màu nâu chì. Nấm không độc chỉ mọc ở những nơi khô ráo và sạch sẽ. Thân nấm không độc thường cứng hơn chứa ít nước, nước trong nấm tiết ra có màu trắng trong. Màu sắc của nấm thường vẫn giữ nguyên vẹn khi chế biến.
Nấm là thực phẩm có chứa nhiều chát dinh dưỡng, đặc biệt trong nấm có chứa thành phần protein cao hơn so với các loại củ, quả tươi.
Theo Nam Phương
(Nguồn Tintuconline)
khoai

Giá trị dinh dưỡng của khoai

Cách nay trên 600 năm, cụ Tuệ Tĩnh – một lương y nổi tiếng của nước ta đã xếp các loại khoai vào nhóm rau. Và ngày nay, chúng ta có thể xem khoai là một loại rau đặc biệt với nhiều giá trị dinh dưỡng…

khoai

Giá trị dinh dưỡng của khoai:

Ta có thể so sánh giá trị dinh dưỡng của khoai với gạo và rau trong 100gr ăn được:

Thành phần dinh dưỡng

Khoai lang tươi

Khoai lang nghệ tươi

Khoai môn

Khoai sọ

Khoai tây

Khoai lang khô

Gạo tẻ

Rau muống

Năng lượng (Kcal)

119

116

109

114

92

333

344

23

Protein (g)

0,8

1,2

1,5

1,8

2,0

2,2

7,9

3,2

Lipid (g)

0,2

0,3

0,2

0,1

0,5

1,0

Glucid (g)

28,5

27,1

25,2

26,5

21,0

80

76,2

2,5

Xơ (g)

1,3

0,8

1,2

1,2

1,0

3,6

0,4

1,0

Calci (mg)

34

36

44

64

10

30

100

Phospho (mg)

49

56

44

75

50

104

37

Sắt (mg)

1,0

0,9

0,8

1,5

1,2

1,3

1,4

Caroten (mcg)

150

1470

10,0

29

2280

Vitamin B1 (mg)

0,05

0,12

0,09

0,06

0,1

0,09

0,1

0,1

Vitamin B2 (mg)

0,05

0,05

0,03

0,03

0,05

0,07

0,03

0,09

Vitamin PP (mg)

0,6

0,6

0,1

0,1

0,9

1,6

0,7

Vitamin C (Mg)

23

30

4

4

10

23

(Trích bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam Viện Dinh dưỡng – Bộ Y Tế – NXB Y học Hà Nội – 2000)

Khoai có chứa đủ chất dinh dưỡng

Gọi các loại khoai là rau vì nó cung cấp cho cơ thể caroten và Vitamin C, nhưng là rau đặc biệt vì nó có chứa hàm lượng các chất sinh nhiệt cao. Vì chứa nhiệt lượng cao, nên các loại khoai có thể thay được 1 phần lương thực. Cần 1000Kcal, phải ăn trên 4kg rau muống, trong khi đó, nếu ăn khoai lang tươi, chỉ cần 800gr. 100gr khoai lang khô có nhiệt lượng tương đương 100gr gạo. Tuy nhiên, vì lượng protein rất thấp nên ăn khoai lâu dài sẽ dễ dẫn đến thiếu protein. Giá trị của khoai là vừa có phần thay lương thực lại có phần là rau (Caroten, Vitamin C) mà ở lương thực không có.

Với người trưởng thành khi thiếu gạo (lương thực), có thể ăn khoai lang tươi lâu dài hàng năm vẫn chịu được. Nhưng dù ăn gạo đủ no nhưng thiếu RAU thì chắc chắn là sau 3 tháng sẽ xuất hiện bệnh thiếu Vitamin.

Nhược điểm của khoai

Khoai có lượng xơ rất cao, nếu ăn thay lương thực cho đủ Calo tương ứng thì lượng xơ cao khoảng gấp 10 lần, cho nên ăn nhiều dễ gây sình hơi ở bụng, có lúc gây tiêu hóa nhanh. Điều này xảy ra ở những người chưa quen, nếu ăn quen sẽ giảm.

Về dinh dưỡng, khoai còn nhều ưu điểm:

• Xơ của khoai là loại Pectin có tác dụng giúp tiêu hóa tốt, tăng thải Cholesterol, chống táo bón…

• Chất tinh bột ở khoai thuộc dạng tinh bột dễ tiêu và còn phần lớn ở dạng đường (nên ăn khoai có vị ngọt).

• Tỷ lệ Ca/p tương đối tốt cho việc sử dụng.

Ăn khoai như thế nào để tăng giá trị dinh dưỡng?

Với người khỏe mạnh

Nên ăn khoai như rau, hàng ngày ăn 200-300gr khoai tươi (khoai lang, khoai sọ, khoai tây…) nấu với thịt, hoặc rám mỡ, vừa có thể giảm bớt lượng cơm, vừa có đủ Vitamin nếu ít ăn các loại rau lá.

Khoai nấu canh còn có tác dụng bảo vệ các Vitamin nhờ có tinh bột khoai. Dù ít ăn rau lá thì ăn khoai là cách chống táo bón và chống thiếu Vitamin có hiệu quả.

Có thể bạn chưa biết

Với người bệnh tiểu đường, một bệnh rất cần khống chế lượng gluxid trong bữa ăn, ăn khoai tươi làm lương thực (thay gạo, bột mì) ăn với các loại cá, thịt nạc, đậu thì bữa ăn vừa no, vừa dễ hợp với chữa bệnh

Với người già, ốm:

Vì bột khoai rất dễ tiêu hơn bột gạo, nên với người ốm, người già có thể ăn cháo khoai (có ít gạo) hoặc bột khoai nghiền (Khoai chín sau khi luộc).

Bánh tráng (đa) khoai – một loại dạng bột khoai đã hấp chín, phơi khô, khi nướng phồng lên là thức ăn rất dễ tiêu đối với người già, người ốm.

Với trẻ em:

Khoai, đặc biệt là khoai lang nghệ, khoai tây,… là thức ăn bổ sung tốt cho trẻ em, vì:

• Chỉ cần khoai luộc, tùy yêu cầu đặc, lỏng mà thêm nước sau khi nghiền nhỏ là ta có ngay sữa bột cho trẻ.

• Bột khoai có ưu điểm là có Protein tốt cho trẻ, lại có các chất Vitamin, nhất là Vitamin C và Caoten mà nếu trẻ ăn thiếu rau sẽ bị thiếu.

• Tinh bột khoai dễ tiêu hóa, trong khoai có đường nên vị ngọt rất thích hợp với khẩu vị của trẻ.

• Tùy sự phát triển của trẻ, từ bột khoai (lấy từ khoai tươi luộc chín) trộn thêm bột

Những điều lưu ý:

Khó kể hết các điều tốt của khoai khi chúng ta sử dụng như rau, tuy nhiên, các giá trị của khoai còn phụ thuộc vào cách sử dụng, cách nấu nướng và cách ăn.

Trước hết, khoai là loại rau sạch, không bị nhiễm khuẩn lúc còn tươi, lành. Tuy nhiên, khi dùng khoai, nhất thiết phải rửa sạch vỏ, nhất thiết phải bỏ đi các phần hà, sùng, thối. Đặc biệt với khoai tây, phải khoét bỏ vùng khoai ở chân mầm non vì ở các loại này có nhiều độc tố, ăn bị ngộ độc.Không nên gọt vỏ khoai vì gọt dày quá sẽ mất đi lớp protein trong khoai, rất quý mà chỉ tồn tại ở sát vỏ. Nếu phải nấu canh, xào khoai thì nên cạo bỏ lớp vỏ, giữ lớp khoai dưới vỏ, nếu chỉ ăn trực tiếp thì nên để vỏ luộc khoai, xong bóc bỏ vỏ khoai là tốt nhất. Làm bột cho trẻ nên luộc khoai, bóc vỏ, sau đó nghiền nát khoai làm bột cho trẻ (purê khoai)

Có một số khoai có thể ăn cả lá: Lá khoai lang luộc hay nấu canh ăn rất tốt, lá khoai môn có thể muối thành rau chua.

Có nhiều cách ăn khoai thông qua chế biến, nhưng đơn giản là 2 cách:

– Ăn nướng: để nguyên củ khoai vùi vào tro nóng (Khoai chín, bóc vỏ ăn ngon thơm, lại không bị mất chất dinh dưỡng)

– Ăn sống thường gặp ở nông thôn, trẻ em hay ăn. Khoai rửa sạch vỏ, có thể ăn sống, không bị nhiễm khuẩn, có thể sử dụng tốt nguồn Vitamin C rất phong phú trong khoai, tuy nhiên: Chỉ có khoai lang non thì ăn tốt vì lúc này, củ khoai chứa nhiều đường, có thể tiêu hóa được. Còn khoai già thì sẽ không tiêu hóa được phần tinh bột, rất lãng phí. Các loại khác thường có mủ khoai, một loại pectin có chứa alkaloid, gây ngứa, không ăn được.

Theo PGS. Trương Bút

món ăn

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn

Giá trị dinh dưỡng của thức ǎn phụ thuộc vào thành phần hóa học của các loại thức ǎn, các chất dinh dưỡng trong thức ǎn, sự tươi sạch của thức ǎn và cách nấu nướng chế biến loại thức ǎn đó. Thức ǎn nào cũng có đầy đủ các chất dinh dưỡng đó là chất đạm, chất béo, tinh bột cùng vitamin và muối khoáng nhưng có loại thức ǎn nhiều chất dinh dưỡng này có loại nhiều chất dinh dưỡng khác vì vậy nên dùng phối hợp nhiều loại thức ǎn để hỗ trợ và bổ sung cho nhau nhằm đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng. Thức ǎn được chia thành các nhóm sau:

 – Thức ǎn giầu chất đạm (protid)
 – Thức ǎn giầu chất béo (lipid)
 – Thức ǎn giầu tinh bột (glucid)
 – Thức ǎn cung cấp chất khoáng và vitamin
 A. Thức ǎn giầu chất đạm
 Thức ǎn giầu chất đạm gồm 2 loại là thức ǎn giầu đạm nguồn gốc động vật và nguồn gốc thực vật. Đạm động vật ưu điểm là có đủ 8 acid amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối còn đạm thực vật thường thiếu một hoặc nhiều acid amin cần thiết và ở tỷ lệ không cân đối. Vì vậy nên dùng đạm động vật để hỗ trợ cho đạm thực vật hoặc phối hợp những đạm thực vật với nhau.
 I Thức ǎn đông vật:
 1 Thịt:
 Hàm lượng chất đạm trong các loại thịt như thịt lợn, gà, vịt, bò, chim…đều xấp xỉ như nhau nhưng còn tuỳ theo thịt nạc hay mỡ mà hàm lượng chất đạm cao hay thấp. Về chất lượng chất đạm của thịt đều có đầy đủ các acid amin cần thiết và ở tỷ lệ cân đối, có tác dụng hỗ trợ tốt cho ngũ cốc.
 * Chú ý khi chế biến thịt: Thịt nướng, rang và nhất là ướp đường trước khi nướng, rang làm tǎng mùi vị, sức hấp dẫn nhưng làm giảm giá trị sinh học của thức ǎn. Đối với trẻ nhỏ không nên cho ǎn thịt nướng, rang khô vì giảm chất dinh dưỡng và khó hấp thu.
 – Thịt bị ôi thiu, hỏng sẽ tiết ra chất độc gây dị ứng hoặc ngộ độc tuy nấu nướng khéo che đậy được mùi vị hư hỏng nhưng chất độc vẫn còn.
 Lưu ý thịt lợn có khả nǎng bị nhiễm giun xoắn mà không bị phát hiện, thịt ếch nhái hay bị sán nên phải ǎn chín. Riêng cóc trong da và trứng có chứa chất độc làm chết người nên khi ǎn cần loại bỏ triệt để da và phủ tạng.
 Không dùng thớt thái chung thịt chín và thịt sống.
 – Nước xương, nước thịt hầm, luộc có chứa nhiều ni tơ nhưng chất đạm và canxi rất ít. Nấu ǎn cho trẻ cần cho ǎn cả thịt (phần cái) chứ không phải chỉ có nước.
 2. Cá và các chế phẩm của cá:
 – Cá có hàm lượng chất đạm cao, chất lượng tốt và các acid amin cân đối, cá có nhiều chất khoáng và vitamin hơn thịt đặc biệt trong gan cá có nhiều vitamin A, D, B12 nhưng cá dễ bị hỏng hơn thịt.
 – Cá khô có hàm lượng chất đạm cao hơn cá tươi nhưng mặn và dễ bị ẩm, mốc. Chú ý cá khô mốc có thể gây nên ngộ độc.
 3. Tôm, lươn, cua và nhuyễn thể:
 – Tôm, lươn, cua có hàm lượng và chất lượng chất đạm không kém gì so với thịt, cá, còn chất lượng chất đạm của nhuyễn thể ( ốc, trai, sò…) thì không bằng và tỷ lệ các acid amin không cân đối. Tuy vậy nhuyễn thể lại có nhiều chất khoáng hơn, nhất là canxi, đồng(cu) và selen(se).
 – Khi nhuyễn thể bị chết dễ bị phân huỷ, sinh ra độc tố nên khi ǎn ốc, trai, sò…phải chú ý loại bỏ con chết, ngâm con sống sạch trước khi nấu. Nhuyễn thể còn là vật trung gian truyền các loại bệnh như thương hàn, tiêu chảy nên nhuyễn thể cần phải được ǎn chín.
 – Cua đồng, con dạm giã nấu canh, nấu bột, khi lọc có mất nhiều chất đạm nhưng là chất đạm hòa tan, dễ hấp thu và còn có thêm nhiều canxi.
 4. Trứng:
 Các loại trứng gà, vịt, trứng cua cáy, cá là nguồn cung cấp chất đạm tốt nhất vì có đầy đủ các acid min cần thiết với tỷ lệ cân đối. Trứng có thể nhiễm ký sinh trùng hoặc vi khuẩn gây bệnh. Không nên ǎn trứng sống, trứng hỏng vì có thể bị ngộ độc. Muốn luộc trứng lòng đào thì cho thẳng trứng vào nước nóng già rồi đun sôi vài phút, lòng trắng sẽ chín và lòng đỏ còn sống, các vitamin không bị nhiệt phá huỷ.
 Trứng vịt lộn chứa nhiều chất đạm và nội tiết tố kích thích chuyển hoá trong cơ thể người ǎn.
 5. Sữa:
 Sữa mẹ có đầy đủ chất đạm, chất béo, chất đường, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp, dễ hấp thu vì vậy sữa mẹ là thức ǎn tốt nhất cho trẻ em. Hiện nay ngoài thị trường có bán nhiều loại sữa bò, sữa đậu nành có nhiều chất bổ dưỡng cho trẻ em, người già, người ốm.
 Sữa là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển vì vậy cần phải bảo quản cẩn thận nhất là sau khi đã pha thành sữa nước. Khi sữa bị hỏng sẽ có mầu vàng nâu từ nhạt tới sẫm.
 6. Các loai nước chấm:
 Trong nước nắm, nước chấm như mai, sì dầu có chất đạm ở dạng tự do, hòa tan nên dễ hấp thu. Các loại nước nắm, nước chấm thường mặn nên ǎn ít.
 II. Thức ǎn thức vật
 1. Đậu đỗ:
 Đậu đỗ có hàm lượng chất đạm cao. Đậu tương có giá trị dinh dưỡng rất cao. Đạm đậu tương có giá trị như đạm động vật. Ngoài ra đậu tương còn chứa các chất có tác dụng phòng chống ung thư và giảm cholesterol máu.

món ăn

 Đậu đỗ cần ǎn chín, nên ngâm nước trước khi rang. Các sản phẩm từ đậu tương được dùng phổ biến như sữa đậu nành, đậu phụ, bột đậu nành hoặc dùng quá trình lên men để chế biến thành các sản phẩm như tương, chao, sữa chua đậu nành…để làm tǎng giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ hấp thu của thức ǎn. Nên sử dụng nhiều sản phẩm từ đậu nành vì là loại thực phẩm giầu chất dinh dưỡng và có tác dụng tốt cho sức khoẻ.
 2. Vừng, lạc:
 Hàm lượng chất đạm trong vừng, lạc cao nhưng chất lượng kém hơn đậu đỗ. Khi rang lạc không làm ảnh hưởng tới chất lượng chất đạm.
 Cần bảo quản tốt lạc để tránh mốc. Khi ǎn lạc cần loại bỏ các hạt mốc vì trong hạt lạc mốc có chứa độc tố vi nấm gây ung thư gan. Mỗi gia đình nên có một lọ muối vừng lạc để ǎn thường xuyên
 B. Thức ǎn cung cấp chất béo
 Thức ǎn giầu chất béo chủ yếu là mỡ động vật, trứng, sữa và các hạt có dầu như vừng, lạc, đậu tương.

1. Mỡ:

Thường dùng là mỡ lợn, bò, cừu. Mỡ thường chứa nhiều acid béo no ( hơn 50%).

2. Dầu thực vật:
 Thường dùng là dầu lạc, vừng, hướng dương, đậu nành… Dầu thực vật chứa nhiều acid béo không no, cần thiết phòng tránh bệnh tim mạch cho người cao tuổi và giúp phát triển tế bào não cho trẻ nhỏ.
 3. Bơ:
 Bơ là chất béo của sữa có chứa nhiều acid béo no. Bơ cung cấp nhiều vitamin A và D
 Chú ý:
 – Bảo quản dầu, mỡ và bơ nơi khô, mát tránh ánh sáng để giữ khỏi oxy hoá.
 – Dầu mỡ đun ở nhiệt độ cao, kéo dài bị phân huỷ tạo ra chất độc. Vì vậy không dùng dầu mỡ rán đi rán lại nhiều lần.
 C Thức ǎn cung cấp chất bột (Đường)
 1. Ngũ cốc: Các loại ngũ cốc (gạo, ngô, bột mỳ, kê, miến..) thường được dùng làm thức ǎn cơ bản ở các nước đang phát triển. Ngũ cốc khô chứa 70% chất bột trở lên, ngoài ra ngũ cốc còn chứa một phần chất đạm.
 a. Gạo:
 Chất lượng protid của gạo là tốt hơn cả rồi đến bột mỳ và cuối cùng là ngô. Lớp ngoài cùng của hạt và mầm hạt gạo đều chứa các chất dinh dưỡng quý như đạm, mỡ, canxi và vitamin nhóm B. Không nên xay xát gạo trắng quá làm mất chất dinh dưỡng. Khi nấu cơm cũng làm mất vitamin B1, vì vậy không vo gạo kỹ quá, nên dùng nước sôi và đậy vung khi thổi cơm.
 – Lưu ý bảo quản gạo, ngô, khoai, sắn ở nơi khô ráo để tránh bị mốc, khi thực phẩm bị mốc cần bỏ không dùng vì mốc sẽ tạo ra độc tố vi nấm, có hại cho sức khoẻ.
 b/ Bánh mỳ:
 Chất lượng bánh mỳ phụ thuộc vào độ chua, độ ẩm và xốp. Bánh xốp, vỏ mềm dễ tiêu hóa. Độ chua và độ ẩm cao làm giảm chất lượng bánh. Bánh sau khi sản xuất cần bảo quản khô sạch trong khi vận chuyển và tiêu thụ. Bị ẩm, bánh dễ bị mốc và lên men, nhiễm khuẩn làm ruột bánh trở nên mềm, dính, chảy và có mùi khó chịu. Không được ǎn bánh đã bị mốc hoặc bị nhiễm khuẩn.
 2. Khoai, sắn: Hàm lượng chất bột trong khoai sắn chỉ bằng 1/3 hàm lượng chất bột trong ngũ cốc. Hàm lượng chất đạm trong khoai sắn cũng ít nên ǎn khoai , sắn nhiều cần phải ǎn thêm nhiều chất đạm nhất là đối với trẻ em để phòng suy dinh dưỡng.
 Chú ý:
 – Không ǎn khoai tây đã mọc mầm vì chứa chất độc có thể gây chết người.
 – Sắn tươi có chứa chất độc nên không được ǎn sắn tươi sống, có thể gây chết người. Khi ǎn sắn tươi cần bóc bỏ vỏ, ngâm nước 12-24 giờ trước khi luộc, luộc xong cần mở vung cho bay hết hơi để loại chất độc.
 D Thức ǎn cung cấp chất khoáng và vitamin
 I. Thức ǎn cung cấp chất khoáng:
 Vai trò chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng như tham gia vào quá trình tạo tổ chức xương, tạo protit, duy trì cân bằng kiềm toan, tham gia chức phận nội tiết, điều hoà chuyển hóa nước trong cơ thể…
 Các chất khoáng gồm calci, magie, natri, ka li… được coi là các yếu tố kiềm. Nguồn gốc các chất khoáng này chứa nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật như rau quả, sữa và các chế phẩm của sữa. Các chất khoáng như lưu huỳnh, phospho, cho… là yếu tố toan, các chất khoáng này có nguồn gốc từ các thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng và nguồn thực vật như ngũ cốc, các loại bột.
 – Các thức ǎn thiên nhiên thường có ít calci do đó tỷ lệ CA/P thấp trừ sữa, nhuyễn thể, cá, tôm, cua…Với trẻ nhỏ, ngoài sữa cần cho ǎn thêm cua, cá, tôm khi nấu bột hay cháo.
 – Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, nhuyễn thể, đậu đỗ, vừng, lạc và có ít trong sữa, ngũ cốc.
 – Các yếu tố vi lượng như đồng, mangan, kẽm, iod, nhôm… có nhiều trong thịt, trứng, sữa, thủy sản.
 – Nên tǎng cường ǎn các loại cua, tôm, tép giã nhỏ nấu canh để có nhiều chất đạm và can xi, hoặc chế biến các loại cá nhỏ bằng cách nấu nhừ như các rô kho tương, kho nước nắm… để ǎn được cả thịt cá và xương cá, như vậy sẽ tận dụng được cả nguồn chất đạm và chất khoáng (Canxi) của cá.
 II. Thức ǎn cung cấp vitamin
 Rau tươi các loại cung cấp nhiều vitamin, chất khoáng và xơ, ngoài ra rau còn có chứa từ 1-2% chất đạm. Một số loại rau có chứa hàm lượng chất đạm cao như rau ngót (5,3%), rau muống (3,2%).
 1. Vitamin A:
 – Thức ǎn động vật như gan, trứng, cá là nguồn chủ yếu cung cấp vitamin A.
 – Các loại rau có lá xanh thẫm ( rau ngót, rau đay, rau dền, rau muống, rau khoai lang, kinh giới, xương sông, lá lết, rau thơm, cà rết… các loại quả mầu vàng, da cam (gấc, đu đủ chín, hồng, xoài, mít, dứa…) là thức ǎn có nhiều b -caroten (Tiền vitamin A).
 2/ Vitamin nhóm B có chứa nhiều trong thức ǎn động vật như thịt, thức ǎn thực vật như đậu đỗ, cám gạo… Vitamin B dễ bị hòa tan trong nước, bị phân huỷ bởi nhiệt nên bị mất trong quá trình chế biến.
 3/ Vitamin C:
 Rau quả tươi là thức ǎn chủ yếu cung cấp vitamin C như rau cải, rau muống, rau ngót, rau mồng tơi, các loại rau thơm…Vitamin C dễ hòa tan trong nước, dễ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao vì vậy cần chú ý khi rửa và nấu nướng. Nên rửa rau cả lá to rồi mới thái, cho vào nấu khi nước đã sôi và ǎn ngay sau khi chín sẽ giảm được tỷ lệ mất vitamin C.

* Chú ý vệ sinh khi sử dụng rau: Rau cần được ngâm, rửa nhiều lần bằng nước sạch trước khi chế biến để tránh thuốc trừ sâu, các hóa chất và các nguồn gây bệnh khác.

 G. Một số thức uống:
 1. Chè:
 Là một thức uống có giá trị dinh dưỡng vì có chứa tanin, cafein, tinh dầu, các vitamin, chất đạm và các chất khoáng. Thành phần cơ bản của chè là Tanin nên chè có vị chát và có tác dụng tốt cho tiêu hóa.
 Uống chè có tác dụng kích thích hưng phấn hệ thần kinh trung ương, hoạt động hệ tim mạch, chức phận thận và ống tiêu hóa. Không nên dùng chè đặc trước khi đi ngủ vì làm mất ngủ. Nên uống nước chè tươi vì vừa mát, vệ sinh và có chất dinh dưỡng.
 2. Càphê:
 Càphê có chứa cafein, chất đạm, chất béo và chất khoáng… Càphê có tác dụng kích thích hoạt động hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch. Đối với người bị bệnh tǎng huyết áp, tim mạch… không nên sử dụng càphê.
 3. Rượu bia:
 Độ cồn trong bia chứa 3-6%, trong rượu nếp 5%, rượu trắng và rượu màu có độ cồn cao 39%. Uống rượu thường xuyên có hại tới thận, gan, dạ dầy và nhiều cơ quan khác. Người nghiện rượu sức đề kháng kém đối với bệnh nhiễm khuẩn và bệnh thường tiến triển nặng. Người nghiện rượu khả nǎng lao động giảm sút và ảnh hường xấu tới thế hệ sau, làm ảnh hưởng tới trí tuệ của con cái. Ngoài ra uống rượu còn gây nhiêu tai nạn trong lao động, tai nạn giao thông, đánh nhau… Trẻ em và phụ nữ có thai không nên uống rượu. Hàng ngày sau giờ làm việc, trong bữa cơm chiều có thể dùng ít rượu nhấm nháp cho vui và kích thích ǎn uống, nhưng không uống nhiều và tránh nghiện rượu.
 4. Nước khoáng
 – Nước khoáng tự nhiên lấy từ các mạch nước ngầm sâu, đó là các dung dịch muối có chứa nhiều chất khoáng, có loại nước khoáng tự nhiên có tính phóng xạ thường dùng để chữa bệnh, giải khát.
 – Nước khoáng nhân tạo: Được sản xuất bằng cách bão hòa nước ǎn với khí Co 2 và một số muối khoáng.
 – Giá thành của nước khoáng đắt khoảng 4000-5000đ/1 chai nên ở thị trường có nước khoáng giả không bảo đảm vệ sinh. Hiện nay ở nhiều nơi sử dụng quá nhiều nước khoáng, nhất là trong các cuộc họp như vậy là không cần thiết tại các cơ quan, hội nghị chúng ta nên sử dụng nước đun sôi để nguội, nước chè xanh hoặc nước vối, vừa bảo đảm vệ sinh vừa tiết kiệm.
 5. Nước quả tự nhiên:
 Là nước quả tươi cho thêm nước và đường , như nước cam, chanh, dưa hấu,dứa…Nước quả tươi có tác dụng tốt đối với sức khoẻ vì chứa nhiều vitamin và chất khoáng, nên uống nước quả tươi, nhất là vào mùa hè.
 6. Các loại nước quả và nước giải khát có ga
 Là các loại nước sản xuất từ tinh dầu hoa quả, các chất mầu với khí CO2 hoà tan trong nước. Chú ý không dùng nước ngọt có ga khi bị tiêu chảy. Không nên cho trẻ em dùng nhiều nước ngọt có ga như Coca-cola, Pepsi, Fantal…vì sẽ gây cho trẻ ngang dạ và biếng ǎn.

Theo Cimsi

Trẻ tiêu chảy, nhiều trường hợp không thể tiêm phòng

Tôi có một con trai được 32 tháng tuổi, nhưng cháu chỉ cân nặng 12.2kg, chiều cao 88cm, như vậy cháu có bị suy dinh dưỡng không ?

benhhambuerger-2

Cháu rất nhát ăn, lại hay bị tiêu chảy, và ra nhiều mồ hôi. Khi tiêu chảy, bác sĩ kê toa uống men antibio và smecta nhưng cả tuần cháu mới hết bị. Xin hỏi BS chúng tôi có thể tiêm phòng tiêu chảy cho cháu được không ?(Lê Thị Phượng)

Trường hợp này trẻ không bị suy dinh dưỡng.

Về việc tiêu chảy tái phát cần cho trẻ đi khám ở bệnh viện Nhi Đồng 1 hay 2 để tìm nguyên nhân. Nếu nguyên nhân gây tiêu chảy do Rotavirus thì có thể tiêm phòng được, tuy nhiên có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy khác không thể tiêm phòng.

Con trai tôi 3 tuổi. Cách đây 1 năm, cháu bị ngã và bao quy đầu đã bị lộn lên. Gần đây, cháu hay gãi đầu dương vật. Đi khám và xét nghiệm nước tiểu, nồng độ Albumin 0.05g/lít, BS bảo bị nhiễm trùng đường tiểu, cho uống thuốc và xét nghiệm lại nước tiểu thì Albumin âm tính. Nhưng cháu vẫn bị lại và đã bị lại 3, 4 lần. Xin bác sĩ cho tôi một lời khuyên (Hoàng Thi)

Việc té ngã không làm bao quy đầu lộn lên.

Nếu trẻ bị nhiễm trùng tiểu tái phát, cần đưa trẻ đi khám để xác định xem trẻ có bị hẹp da qui đầu hay một dị dang nào đó trên đường tiết niệu khiến cho đường thoát nước tiểu bị hẹp, gây ứ nước tiểu và dễ dàng gây nhiễm trùng tiểu. Chi nên đưa trẻ đi khám sớm ở bệnh viện Nhi đồng 1 hoặc 2

Con tôi 12 tháng nặng 8,4 kg cao 74 cm, đi khám thì BS bảo còi xương. Cần phải duy trì chế độ ăn uống và bổ sung canxi thế nào cho cháu (Nguyễn MạnhTiến)

Con tôi đã 8 tháng tuổi, nhưng hiện nay bé không chịu ăn bột và uống sữa. Lượng thức ăn một ngày bé ăn rất ít. Bé chỉ cân nặng có 6,5kg. Tôi phải làm sao để con tôi chịu ăn hoặc bú sữa (Hoang Anh).

Con tôi nay đã 24 tháng tuổi mà chỉ cân nặng có 9kg, từ khi cháu được 15 tháng đến nay cháu không lớn lên được tý nào cả, mà chế độ tôi cho ăn theo khoa học, chất đạm chất dinh dưỡng đầy đủ. Theo bản đồ thì cháu đã bị suy dinh dưỡng nặng, có phải như thế là con tôi không hấp thu được không?(Lê Thị Linh)

Dinh dưỡng kém ở trẻ em là một vấn đề phức tạp, nguyên nhân không chỉ nằm ở yếu tố bệnh lý. Điều trị cần phải kết hợp cả thể chất và tâm lý. Tâm lý của phụ huynh (ông bà, cha mẹ) ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của trẻ, tình trạng dinh dưỡng, phát triển của trẻ còn kém hơn nếu phụ huynh chữa trị không đúng cách. .

Gia đình cần cho trẻ khám ở những bệnh viện, phòng khám có chữa trị về mặt tâm lý, giúp trẻ em và cha mẹ cùng bộc lộ những khó khăn của mình.

 

(Theo Báo Tuổi Trẻ Online)

Bà Bầu

Bí quyết dinh dưỡng cho bà bầu ốm nghén

Thai được 11 tuần tuổi là xem như đã đạt đến 1/2 giai đoạn phát triển của não so với lúc sinh. Vì vậy, hiện tượng ốm nghén, ói mửa lúc này rất cần được khắc phục để tiến trình thai nghén diễn ra suôn sẻ.

Bà Bầu

Thời gian ốm nghén quá lâu, có khi kéo dài 5, 6 tháng, khiến các bà bầu không thể ăn uống để đảm bảo bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng.

Trong ba tháng đầu, ốm nghén ảnh hưởng đến sức ăn tự nhiên nên sức tăng cân bình thường chỉ vào khoảng 1kg, nghĩa là không xê xích bao nhiêu so với lúc chưa có thai. Thai phụ chỉ cần uống thêm khoảng một ly sữa mỗi ngày, uống một viên đa sinh tố – trong đó có cả acid folic – là đủ.

Những tháng về sau, khi hết ốm nghén, thai phụ cần nạp vào đủ năng lượng bằng cách ăn thêm bữa và cho cả ngày. So với khi chưa mang thai, bạn nên ăn thêm một bát cơm với đầy đủ thức ăn trên tháp dinh dưỡng để bổ sung khoảng 350 calo cho khẩu phần bình thường.

 Giai đoạn đầu, thai phụ cần lưu ý:

– Tránh làm việc nặng, chơi thể thao tốn nhiều sức lực để đề phòng sẩy thai.

– Không để bị bệnh nhiễm trùng, nhất là ban nổi hạch Rubela (có khả năng gây dị dạng cho thai nhi).

– Không dùng bất cứ thuốc gì, nhất là loại an thần, dù đang bị mất ngủ. Trước đây đã có những bà mẹ mang thai dùng Thalidomide vì không ngủ được, đến khi sinh, con không có chân, tay.

– Không dùng vitamin A liều cao, ngay cả thuốc thoa bên ngoài để trị trứng cá chẳng hạn.

– Không hút và cũng không hít khói thuốc để thai nhi không bị thiếu oxy.

 Đối với các triệu chứng cấn thai, ốm nghén, kinh nghiệm dân gian thường khuyên:

– Uống nước chanh tươi.

– Không để bụng đói.

– Nên ăn làm 5 – 6 bữa nhỏ thay vì ăn 3 bữa “lớn” như người bình thường.

– Nên ăn bắp cải luộc.

Có thể bắt chước các bà bầu ở Anh theo chế độ ăn gồm: chuối, cơm, táo nấu nhừ cộng chút đường, bánh mì nướng, uống trà gừng hoặc gừng đóng viên nang, bia gừng. Buổi sáng ăn 2 – 3 bánh quy lạt khô với pho mai.

– Đợi 30 – 45 phút sau hãy uống nước hay đồ uống.

– Trong trường hợp dùng đồ uống bị nôn ói, có thể khắc phục bằng cách ngậm những viên đá làm bằng nước lọc hay nước chanh đóng băng đến khi tan dần trong miệng.

– Có thể uống thêm vitamin B6 (dưới dạng pyridoxine hay pyridoxamine), kết hợp với một thuốc kháng histamine như antihistamine doxylamine (Diclectin).

Chỉ khi nào thai phụ nôn ói trầm trọng, bác sĩ sản phụ khoa mới kê toa những loại thuốc có hiệu quả chống ói như: promethazine, metoclopramide, hay prochlorperazine.

Theo BS Nguyễn Lân Đính – Phụ nữ