Category Archives: Triệu Chứng

Bia rượu và các bệnh dị ứng

Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, hiện nay, khoảng 30-40% dân số nhiều nước trên thế giới bị mắc các bệnh dị ứng, và tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển.

bia ruouCùng với sự gia tăng này, một vấn đề đang hết sức được quan tâm đó là sự tác động của yếu tố môi trường đối với những bệnh dị ứng, đặc biệt là tác động của bia rượu, do việc sử dụng những thức uống này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh rất nhiều tác hại đối với sức khỏe con người đã được khẳng định như gây các bệnh lý về tim mạch, tâm thần kinh, tiêu hóa, bia rượu còn có thể có nhiều tác động tiêu cực đối với các bệnh dị ứng. Theo những kết quả nghiên cứu gần đây, các loại bia rượu có thể liên quan đến những phản ứng dị ứng tức thì sau khi uống và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng ở những người sử dụng kéo dài các thức uống này.

Trong thực tế, các phản ứng dị dứng tức thì liên quan đến bia rượu xảy ra tương đối phổ biến, với biểu hiện lâm sàng và cơ chế gây bệnh khá đa dạng và phức tạp. Hầu hết các trường hợp này không phải là những phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trên lâm sàng, các biểu hiện dị ứng sau uống bia, rượu thường gặp nhất là hội chứng nóng bừng (bao gồm cảm giác bốc hỏa, tụt huyết áp, tăng thân nhiệt, nhịp tim nhanh, chóng mặt, đau đầu, buồn ngủ, lo lắng, mệt mỏi và buồn nôn), mày đay, phù Quincke và sốc phản vệ. Ngoài ra, bia rượu còn có thể là yếu tố làm khởi phát hoặc làm nặng triệu chứng của một số bệnh dị ứng đã có từ trước như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, sốc phản vệ do vận động, mày đay, sẩn ngứa… ở những cá thể nhạy cảm. Các phản ứng dị ứng liên quan với bia, rượu thường gặp ở người châu Á, Trung và Nam Mỹ hơn so với các chủng tộc người khác, có thể do sự khác biệt trong quá trình chuyển hóa cồn giữa các chủng tộc.

Những nghiên cứu trên cả người và động vật trong khoảng 3 thập kỷ gần đây cho thấy, cồn và acetaldehyd (là sản phẩm chuyển hóa của cồn trong cơ thể) đều có thể trực tiếp phá vỡ các tế bào mast, gây giải phóng histamin và nhiều hoạt chất trung gian gây dị ứng. Ngoài ra, các chất này còn có thể ức chế quá trình chuyển hóa và đào thải histamin được hấp thu từ thức ăn, do đó, làm tăng nồng độ của hoạt chất này ở các tổ chức. Tăng nồng độ histamin chính là yếu tố quan trọng góp phần gây ra hội chứng nóng bừng, làm bùng phát triệu chứng của hen phế quản và nhiều bệnh dị ứng khác sau uống bia, rượu. Các nghiên cứu còn cho thấy, khí dung chất acetaldehyd có thể gây co thắt phế quản rất mạnh và gây ra cơn hen cấp.

Bên cạnh cơ chế kể trên, trong một số ít trường hợp, các biểu hiện dị ứng với bia, rượu còn có thể gây ra do phản ứng dị ứng trực tiếp với cồn. Trong những trường hợp này, các biểu hiện lâm sàng thường gặp là mày đay, phù Quincke hoặc sốc phản vệ. Cồn (etanol) và các sản phẩm chuyển hóa của nó đều có trọng lượng phân tử thấp và bản thân chúng không có khả năng gây dị ứng, nhưng khi chúng được gắn với protein trong cơ thể sẽ tạo ra các dị nguyên hoàn chỉnh có khả năng gây dị ứng. Trong một số nghiên cứu, người ta đã tìm thấy các kháng thể dị ứng kháng lại phức hợp với acetaldehyd – protein trong máu của những người bị dị ứng với rượu.

Ngoài cồn là yếu tố chủ yếu gây ra các vấn đề về dị ứng, các chất phụ gia, bảo quản và tạp chất như histamin, gốc sulphite hoặc phẩm nhuộm cũng có thể là nguyên nhân gây ra các phản ứng này trong một số trường hợp. Theo một số nghiên cứu, những người có cơ địa dị ứng với lúa mạch và men cũng sẽ có nguy cơ bị dị ứng với bia.

Bên cạnh những phản ứng dị ứng tức thì, đang có ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy việc dùng bia, rượu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng với nhiều loại dị nguyên khác nhau. Các nghiên cứu về dịch tễ cho thấy, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng ở những người nghiện rượu cao hơn rõ rệt so với những người không nghiện. IgE là một loại kháng thể dị ứng quan trọng, có vai trò trung tâm trong hầu hết các phản ứng dị ứng loại hình nhanh ở người. Theo một số nghiên cứu gần đây, những người nghiện rượu hoặc thường xuyên uống rượu với số lượng trung bình có nồng độ kháng thể IgE trong máu cao hơn so với những người không uống rượu, sau khi cai rượu, nồng độ IgE của những người này lại giảm về bình thường. Không những vậy, ở những bà mẹ có nghiện rượu trong thời gian mang thai, những đứa con của họ cũng có nồng độ kháng thể IgE tăng cao. Việc tăng nồng độ IgE trong máu không phải là một bệnh và không gây ra các triệu chứng lâm sàng nhưng nó có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng trong một số trường hợp. Bên cạnh việc làm tăng nồng độ IgE trong máu, dùng bia rượu thường xuyên còn có thể làm cho cơ thể trở nên nhạy cảm với một số yếu tố trong môi trường như bụi nhà, phấn hoa, thực phẩm… và dễ bị dị ứng với những yếu tố này. Mức nhạy cảm này tăng tỷ lệ thuận với lượng rượu uống hằng ngày, và sau khi cai rượu, mức nhạy cảm có thể trở về bình thường. Cơ chế chính xác của những hiện tượng này còn chưa được hiểu rõ, nhưng các nhà khoa học cho rằng đó là do sự tương tác giữa cồn ở trong bia, rượu và hệ thống miễn dịch, gây ra các rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Bản thân cồn là một chất có tác dụng điều hòa miễn dịch, các nghiên cứu tiêm cồn cho động vật thí nghiệm cũng có thể gây ra các đáp ứng về dị ứng tương tự như ở những người nghiện rượu.

Sưu tầm!

Cách xử trí cấp cứu hôn mê

Cách xử trí hôn mê ngay lúc đầu khi chưa đến bệnh viện

Hôn mê là một chẩn đoán y học, người bình thường chứng kiến không thể phân biệt được hôn mê với mất ý thức thoáng qua. Mất ý thức được chia làm 2 loại:hon me

–    Mất hành động tự phát: người bệnh không nói, không động đậy và không mở mắt;

–    Không phản ứng với những lời an ủi-động viên: nạn nhân không phản ứng  khi nắm tay, khi hỏi họ những câu đơn giản (“ anh có nghe tôi nói không?” hoặc “ hãy nắm tay tôi!”)

Ngay sau khi nhận biết nạn nhân mất ý thức, thì những việc nên làm là:

–    Nới lỏng quần áo để nạn nhân dễ thở( tháo cà vạt, mở nút áo ở cổ, nới lỏng dây nịt, nút quần);

–    Biết chắc rằng đó không phải là ngừng hô hấp-tuần hoàn tim mạch: nạn nhân vẫn còn tự thở được khi đột ngột đẩy đầu nạn nhân ra sau;

–    Đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền phẳng, đặt nạn nhân ở tư thế an toàn, cứ để yên họ tại chỗ, trừ trường hợp phải di chuyển khẩn cấp;

–    Gọi cấp cứu;

–    Chờ đợi những ngừơi đến để hỗ trợ, không nên xoay trở nạn nhân cho đến khi toán cấp cứu đến, không cho đám người hiếu kỳ đến gần.

Xử trí y khoa

–    Đánh giá ý thức nạn nhân, thường dùng thang điểm Glasgow.

–    Đảm bảo thông khí tốt bằng đặt nội khí quản

–    Bảng theo dõi về chức năng sinh tồn: nhiệt độ, hô hấp( tím tái, chèn ép khí quản, tần số hô hấp, kết quả khí/máu động mạch), chức năng tim(mạch, huyết áp, điện tim, những dấu hiệu của truỵ mạch).

–    Thiết lập đường truyền tĩnh mạch ngoại biên, đặt sonde tiểu.

–    Chích 30ml đường 30% một cách thường qui, khi nghi ngờ có hạ đường/máu.

–    Chích chất đối kháng nếu nghi ngờ ngộ độc morphine hoặc benzodiazepine.

–    Chích vitamine B1 nếu nghi ngờ bệnh não Gayet-Wernicke

Theo bilan này, thì các chức năng sinh tồn phải được ổn định( suy hô hấp: cho thở oxi; suy tuần hoàn: truyền dung dịch đại phân tử và dùng thuốc vận mạch; v.v.), cho bệnh nhân nhập viện ở khoa thích hợp( khoa hồi sức nội).

Bảng xét nghiệm làm đầu tiên

–    Sinh hoá: huyết đồ, tiểu cầu, VS, CRP, đường máu mao mạch và tĩnh mạch, ion đồ máu, calci/ máu, bilan thận, (uré, créatinine/máu), bilan gan, cấy máu, chức năng đông máu, alcool/máu, tìm độc chất trong máu và nước tiểu.

–    Đo điện não đồ khi có cơn co giật

–    Chụp cắt lớp não, hoặc MRI (cộng hửơng từ nhân), trong trường hợp chấn thương, tai biến mạch máu não, u não hay apxe não.

–    Chọc tuỷ sống trong trường hợp nghi ngờ viêm não-màng não…

Khám lâm sàng

Hỏi những người xung quanh, người cứu hộ

Để giúp hướng chẩn đoán, tìm những dấu hiệu của chấn thương sọ não, tiền căn gợi ý( như động kinh, bệnh lý nội tiết, nghiện rượu, ma tuý, ..)các loại thuốc thường dùng(đặc biệt là thuốc hướng tâm thần), các tình huống khởi phát hôn mê, các dấu hiệu kèm theo, tình trạng trước đây tương tự.

Khám tổng quát

Phải khám kỹ từng cơ quan, bộ phận một: tìm những dấu hiệu chấn thương, mùi rượu, mùi gan, điểm chích ma tuý trên người, dấu hiệu nhiễm trùng…

Khám thần kinh

Khám đầy đủ, cẩn thận, khám đi khám lại nhiều lần, những kết luận phải được thể hiện trên giấy tờ.

Tìm hội chứng màng não

Biểu hiện bằng triệu chứng cứng gáy và làm xét nghiệm về nhiễm trùng ( cấy máu, chọc dò tuỷ sống) thường thêm chụp cắt lớp não( CTScan).

Khám phản xạ

Tìm những cử động bất thường

Giật cơ, giật bó cơ, thất điều, run.

Khám vận động-cảm giác

Khám đánh giá đáp ứng với kích thích đau của người bệnh( véo da, đầu vú, day vùng xương ức). Quan sát cách đáp ứng với kích thích cảm giác. Phản ứng 2 bên phù hợp( rút tay hoặc chân, tránh đau…) điều này chứng tỏ đường vận động-cảm giác còn nguyên vẹn. Nếu phản ứng chỉ xảy ra một bên, chứng tỏ bệnh nhân bị liệt ½ người (bán thân). Hôn mê sâu gây ra những phản ứng không phù hợp với đau.

–    Dấu hiệu mất vỏ: chi trên duỗi và xoay trong ( chứng tỏ tổn thương thân não).

–    Dấu hiệu mất não: chi trên co và khép, chi dưới duỗi. Dấu hiệu mất vỏ chứng tỏ tổn thương bán cầu não lan rộng.

Khám mắt

–    Mi mắt: mắt nhắm tự nhiên. Nếu yêu cầu bệnh nhân mở mắt, họ tự nhắm nhẹ nhàng. Nếu nạn nhân cố kháng cự để nhắm mắt lại gợi ý hôn mê này là lý do tâm lý ( gặp trong chứng hysterie).

–    Chớp mắt: nếu mắt  còn chớp được, chứng tỏ đường liên lạc hướng lên không bị tổn thương, phải nghĩ đến hội chứng khoá trong ( không phải là hôn mê, mà là do mất toàn bộ con đường cảm giác-vận động,  người bệnh không bị mất ý thức, nguyên nhân là do huyết khối động mạch thân nền).. Chớp mắt khi dùng lời lẽ đe doạ, chứng tỏ hoạt động của vỏ não còn bảo tồn. Chớp mắt khi kích thích với ánh sáng, chứng tỏ con đường cảm giác còn. Cuối cùng, người ta thử làm phản xạ giác mạc, nếu còn chứng tỏ dây thần kinh số 5 và các nhân của dây này không bị tổn thương.

–    Khám đồng tử : đồng tử dãn, không phản xạ với ánh sáng chứng tỏ có tổn thương thần kinh lan toả và thường bất phục hồi. Nếu dãn đồng tử 1 bên, gợi ý tụt não sắp xảy ra, đe doạ tiên lượng xấu, người bệnh sắp chết đến nơi. Đồng tử co nhỏ gặp trong ngộ độc morphine và thuốc trừ sâu.

–    Vị trí nhãn cầu

–    Vận động của nhãn cầu: nhãn cầu vận động tự nhiên hay do kích thích chứng tỏ thân não còn chưa bị tổn thương.

–    Phản xạ nhãn cầu: phản xạ nhãn cầu-não, phản xạ mắt-tiền đình

–    Khám đáy mắt:, không dãn đồng tử, tìm dấu hiệu phù gai thị, nếu có chứng tỏ có tăng áp lực nội sọ.

Xếp loại hôn mê (xem thang điểm Glasgow)

Thái  độ xử trí

Cần phải cho bệnh nhân nhập viện vào khoa hồi sức để đảm bảo việc theo dõi sát và chăm sóc tích cực. Điều trị tuỳ theo nguyên nhân, nếu có thể, ưu tiên điều trị chống co giật trong trường hợp có động kinh, bù đường ưu trương nếu hạ đường huyết, dùng kháng sinh nếu viêm não-màng não.v.v.

Theo dõi

–    Khám lâm sàng mỗi ngày, khám thần kinh nhiều lần trong ngày đánh giá bằng thang điểm Glasgow, ghi vào bệnh án, để theo dõi tiến triển của tổn thương thần kinh.

–    Theo dõi sinh hiệu(mạch, huyết áp, hô hấp, nhiệt độ) mỗi 2 giờ/lần.

–    Xét nghiệm sinh học: ion đồ, huyết đồ, chức năng thận, chụp x-quang ngực…

–    Thường xuyên khám các biến chứng như khám da xem có lở loét gì không, khám mắt, miệng, nơi truyền dịch, tĩnh mạch… xem có bị viêm tắt hay không.

–    Theo dõi lượng xuất- nhập ( năng lượng-calori), nước ra ( nước tiểu), và tình trạng dinh dưỡng.

–    Công tác chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh

Những triệu chứng nữ giới nên cảnh giác

Có những triệu chứng đôi khi rất đơn giản, thậm chí không nhận thấy rõ và thường bị bỏ qua, lại là dấu hiệu báo trước của những rắc rối lớn về sức khỏe sau này. Vì vậy bạn cần cảnh giác khi thấy chúng xuất hiện. Sau đây là một số triệu chứng không nên xem thường ở nữ giới.

1. Thường xuyên mỗi buổi sáng ngủ dậy, đều thấy có vết bầm tím kèm theo sưng ở 2 mí mắt dưới
Khi rơi vào trường hợp này, bạn nên đến bác sĩ nhờ kiểm tra lại sức khỏe của thận. Lý do: theo thống kê, tỉ lệ phụ nữ bị sỏi thận cao gấp 1,5 lần so với nam giới. Tuy nhiên, nếu thỉnh thoảng những dấu hiệu trên mới xuất hiện thì có thể nguyên nhân chỉ là do mệt mỏi kéo dài. Bạn nên dùng loại kem an toàn chống vết thâm, làm trắng da hoặc thoa kem lót trước khi ngủ. Thường thì thoa vài lần, các vết bầm sẽ hết, với điều kiện là bạn phải tránh những nguyên nhân gây ra nó, như tránh thức khuya và làm việc quá sức, nghỉ ngơi cũng là cách giúp cải tạo da mặt.nu gioi canh giac
2. Tính tình thay đổi, nhạy cảm
Hệ thống thần kinh trung ương của phụ nữ phản ứng rất mạnh với hiện tượng ngừng tiết nội tiết tố (hoóc môn). Vì vậy, khi tuyến giáp ngừng sản xuất nội tiết tố, những dấu hiệu nhận thấy đầu tiên là tính tình thay đổi bất thường, dễ xúc cảm, dễ tức giận, khó ngủ, sút cân và đặc biêt là rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, dù vẫn ăn uống bình thường. Những người rơi vào tình trạng này phải đến bệnh viện hay bác sĩ nhờ kiểm tra lại tuyến giáp.
3. Thường xuyên bị chóng mặt
Đang nằm đứng lên hay cúi xuống đứng lên thấy chóng mắt, xây xẩm muốn ngã thì đây có thể là biểu hiện của các bệnh liên quan đến huyết áp. Nếu kiểm tra huyết áp thấy số đo cao bất thường thì cần điều chỉnh chế độ ăn uống, chọn một hình thức vận động thể lực phù hợp và nghe lời khuyên của bác sĩ. Tuyệt đối tránh tự mua thuốc về uống.

4. Đau vùng thắt lưng

Đau quặn vùng thắt lưng có thể là dấu hiệu viêm bàng quang hay viêm phần phụ. Muốn định bệnh chính xác, cần chụp X-quang, làm xét nghiệm máu, nước tiểu và nếu cần nội soi bàng quang. Trước mắt, cần uống nhiều nước, tránh ăn các gia vị cay như tiêu, ớt.
5. Thường bị sưng phù và cứng cẳng chân lúc chiều, tối
Khi hiện tượng này xảy ra, bạn hãy nghĩ ngay đến triệu chứng tắc tĩnh mạch mạn tính mà nguyên nhân có thể do ăn ít rau xanh có chứa chất xơ, nguyên liệu cần để làm chắc thành mạch máu. Vì vậy bạn cần ăn nhiều rau xanh hơn, kèm theo vận động phần dưới cơ thể mỗi ngày vài chục phút.
6. Thỉnh thoảng chân tay bị co quắp, như vọp bẻ
Chân tay tự nhiên co quắp một vài phút là dấu hiện bạn đang thiếu nghiêm trọng canxi và sinh tố D, những chất có nhiều từ sữa, gan và đồ biển như nghêu, sò. Bổ sung kịp thời những chất này sẽ giúp làm giảm hay loại bỏ những triệu chứng trên.
7. Mồ hôi xuất nhiều hơn bình thường
Khi bị chứng loạn trương lực mạch thực vật, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tiết nhiều mồ hôi hơn bình thường. Có thể dùng thuốc an thần có kiểm soát để giảm triệu chứng, nhưng nếu tình trạng không thuyên giảm thì nên đến khám tại phòng mạch bác sĩ chuyên khoa thần kinh.
8. Sụt cân vô cớ, khát nước liên tục và đi tiểu nhiều
Sụt cân khi vẫn ăn uống bình thường, khát nước thường xuyên dù mới uống nước xong, có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường type 2, rất nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng. Đáng ngại hơn nữa là ít người biết đây là triệu chứng của nó. Thống kê cho thấy, có đến 64% người mắc bệnh tiểu đường nhưng không biết mình có bệnh. Vì vậy khi thấy xuất hiện những biểu hiện trên và kéo dài 1 tuần, thì nên đến cơ sở y tế để kiểm tra lượng đường trong máu (đường huyết) nhằm phát hiện bệnh sớm.
9. Tóc rụng ngoài tầm kiểm soát
Một ngày nào đó, tuổi chưa cao mà tóc bạn tự nhiên rụng từng nhúm, một cách bất thường, làm lộ từng mảng da đầu, thì nguyên nhân của nó có thể là do bị stress kéo dài, nhiễm trùng tái đi tái lại và ăn uống không đúng cách. Loại bỏ những nguyên nhân này, tình hình sẽ được cải thiện. Trước hết là phải tránh ngay những gì dẫn đến stress.
10. Ngực tự nhiên trở nên cứng

Đây có thể là biểu hiện của các bệnh về vú. Có 2 dạng biểu hiện: toàn khối đều cứng hoặc chỉ nổi hạch cứng ở một vài vị trí. Đây có thể là khối u lành tính, u xơ hoặc khối u ác tính, nên cần làm xét nghiệm chính xác (có kiểm chứng) và cần điều trị ngay theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, vì nếu để lâu có thể nguy hiểm. Ở những trường hợp lành tính, dùng thêm thảo dược, sinh tố (vitamin) sẽ làm giảm bớt được các biến chứng ở ngực.

Đái dắt, hãy coi chừng!

Sau khi quan hệ tình dục mà xuất hiện việc đái dắt, bạn hãy coi chừng vì đó có thể là biểu hiện đầu tiên của việc nhiễm bệnh lậu…

Dấu hiệu đặc biệtdai dat

Bệnh lậu sinh dục lây theo đường giao hợp với người đang mang vi khuẩn lậu (cấp tính hoặc mãn tính).

Lậu cầu là những song cầu hình hạt cà phê hoặc hình quả thận, xếp đôi, xếp bốn hoặc thành từng đám. Sức đề kháng của lậu cầu kém, ra khỏi cơ thể, lậu cầu dễ bị chết, các thuốc sát trùng thông thường hay nhiệt độ cao cũng làm cho lậu cầu chết.

Các quan điểm trước đây cho rằng bệnh này có thể lây qua gián tiếp như mặc chung quần lót, ngồi phải chỗ bệnh nhân lậu đã ngồi hoặc dùng chung đồ dùng nay đã bị thực tế phủ nhận. Bệnh lậu chỉ có thể lây khi quan hệ tình dục (giao hợp) với người mắc bệnh.

Do phản ứng bảo vệ của cơ thể, lậu cầu khuẩn không xâm nhập được vào sâu hơn, chúng tạo mủ ở niệu đạo, gây rát buốt, đái dắt. Đây là dấu hiệu đặc biệt ở giai đoạn đầu của bệnh lậu và cũng nhờ dấu hiệu này mà chẩn đoán ra bệnh lậu (có mủ dính đặc ở miệng sáo).

Tuy nhiên cần lưu ý, không phải cứ hễ đái dắt là bị lậu mà bị lậu thì dấu hiệu đầu tiên là đái dắt!

Nữ khó nhận biết bệnh hơn nam

Ở nam giới, biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn cấp thường dễ nhận thấy, nhưng ở nữ giới biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn cấp rất ít, nhiều khi không biết mình có bệnh. Vì vậy, phụ nữ mắc lậu là nguồn lây bệnh nguy hiểm cho người khác khi có quan hệ tình dục.

Nếu được điều trị kịp thời, đúng cách, hầu hết (96%) sẽ khỏi bệnh nhanh chóng. Nếu không điều trị kịp thời và đầy đủ thì sau 10-15 ngày nhiễm khuẩn lan rộng dẫn đến viêm niệu đạo toàn bộ, khi đó đái dắt, đái khó, có thể đái ra giọt máu ở cuối dòng, mủ chảy ra nhiều, hạch bẹn có thể sưng đau.

Bệnh lậu có thể dẫn tới các biến chứng ở nam giới như: viêm ống dẫn tinh và mào tinh hoàn; viêm túi tinh và ống phóng tinh; viêm dưới niêm mạc niệu đạo gây nhiều túi mủ xung quanh niệu đạo.

Còn ở nữ, thời gian ủ bệnh thường từ 2 tuần trở lên. Tuy nhiên có tới 75% phụ nữ có thời gian ủ bệnh khó xác định và các triệu chứng ban đầu rất kín đáo. Rất hiếm khi có triệu chứng lâm sàng cấp tính, nếu có thì thường là ở phụ nữ trẻ, mới mắc bệnh lần đầu.

Biểu hiện thường thấy là đái dắt, đau sau khi giao hợp, đau vùng xương chậu. Nếu khám thì thấy viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung có mủ, viêm âm hộ, âm đạo.

Ngoài chữa trị theo Tây y, với bệnh này, y học cổ truyền cũng có các bài thuốc chữa trị, như bài “cân diệp tiễn thang”, với các vị thuốc: bản lam căn 30g, đại thanh diệp 30g, kim tiền thảo 15g, đại hoàng 12g. Cho thuốc vào 600 ml nước, đun nhỏ lửa trong 30 phút. Chắt ra lấy 1/2 chia 3 lần uống trong ngày. Còn 1/2 và bã dùng để rửa và đắp cơ quan sinh dục. Dùng trong 5 ngày liền.

Tốt nhất là bệnh nhân đến khám và điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa về da liễu, tuyệt đối không tự điều trị. Trong thời gian mắc bệnh, tuyệt đối không quan hệ tình dục để tránh lây bệnh cho người khác.

Theo Lương y Hoài Vũ

6 chứng đau báo hiệu nguy hiểm

Ai chẳng thỉnh thoảng bị đau, thế nên nhiều khi bạn cũng lờ đi cảm giác đó. Nhưng có một số chứng đau báo hiệu tai hoạ, bạn chớ coi thường.

Đừng xem nhẹ những cơn đau dưới đây vì rất có thể bạn đang phải đối mặt với những nguy cơ lớn về sức khoẻ.

Đau đầu dữ dội

Trong cuộc sống bận rộn và căng thẳng, đôi khi bạn cảm thấy khó chịu vì cảm giác đau đầu. Tuy nhiên, sẽ là bất thường nếu những cơn đau đầu thường xuyên xuất hiện với cường độ mạnh. Nếu bị những cơn đau đầu dữ dội “viếng thăm” thì rất có thể bạn đang bị xuất huyết não hoặc có khối u trong não.

Trong trường hợp này, cách tốt nhất là hãy nhanh chóng tới gặp bác sĩ hoặc đến bệnh viện để được chuẩn đoán và điều trị trước khi quá muộn.

Đau và khó chịu ở ngực

Với người có tiền sử cao huyết áp, tim mạch, nếu có cơn đau ngực kèm theo cảm giác nặng ngực, khó thở hoặc hồi hộp, choáng váng, cần đi khám để bác sĩ chẩn đoán sớm biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim.

Đau ngực kèm triệu chứng sốt cao 38,5 độ C, ho nhiều, có đờm cũng thường gặp ở người già hoặc trẻ nhỏ trong mùa lạnh, không nên bỏ qua.

Một số phụ nữ khi bị đau bụng, tức ngực, cảm giác khó chịu hoặc choáng váng, chóng mặt thì cho rằng mình đang ở thời kỳ mãn kinh hoặc biểu hiện sau mãn kinh. Thực tế, đó có thể là dấu hiệu bệnh tim mạch.

Phụ nữ thời kỳ mãn kinh có nguy cơ tai biến tim mạch và tử vong đột ngột cao như nam giới.

Đau mơ hồ nhiều nơi

Người có tuổi có cơn đau mơ hồ khó tả, nhiều nơi (nhức đầu, đau bụng, đau tê chân…). Nếu kèm theo tình trạng mất ngủ hoặc ngủ gật, hay quên, mệt mỏi và sụt cân vô cớ…, thì nên nghĩ đến bệnh suy nhược thần kinh, trầm cảm và đi khám với bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Đau ở phía dưới của lưng

dau-lung-phu nu

Khi gặp phải cảm giác đau ở phía dưới của lưng, bạn nên cảnh giác vì thường đó là biểu hiện của bệnh khớp. Cũng có thể bạn đang mắc phải chứng bệnh có liên quan đến tim mạch hay ổ bụng.

Đau bụng dữ dội

Đau bụng trong thời kỳ kinh nguyệt là hiện tượng bình thường. Bạn cũng có thể đau bụng khi cảm lạnh. Những cơn đau này nhanh chóng qua đi nếu được điều trị và nghỉ ngơi đúng cách. Sẽ là bất thường nếu bạn đột nhiên bị đau bụng dữ dội. Cần nhanh chóng đến bệnh viện. Cảm giác này thường xuất hiện khi bạn bị đau ruột thừa, tắc ruột, có rắc rối ở tuyến tụy, loét dạ dày…

Đau ở bắp chân

Cảm giác đau bắp chân thường xuất hiện khi bạn bị tắc mạch máu do huyết khối. Theo thống kê ở Mỹ, mỗi năm có khoảng hai triệu người bị đau bắp chân do nguyên nhân này. Chứng tắc mạch máu cần được điều trị kịp thời để không ảnh hưởng xấu tới phổi (như chứng tắc nghẽn trong phổi, gây tử vong).

Nếu ngoài biểu hiện đau bắp chân, bạn còn bị sưng phồng bắp chân thì phải đến gặp bác sĩ càng nhanh càng tốt.

Theo báo Đất Việt

Các triệu chứng báo động ung thư

Các triệu chứng báo động giúp tránh một số sai lầm chết người trong điều trị ung thư vì căn bệnh này còn bị hiểu lầm quá nhiều.

Việc chẩn đoán một ung thư thường bắt đầu bằng việc người bệnh cho biết vài triệu chứng tổng quát hoặc vài triệu chứng chức năng nào đó rồi thầy thuốc hỏi thăm kỹ hơn.

Ung thư sẽ được điều trị tốt nếu người bệnh nhận biết sớm những triệu chứng báo động.

Ung thư sẽ được điều trị tốt nếu người bệnh nhận biết sớm những triệu chứng báo động.

Những hiểu lầm thường gặp

“Có phải ung thư luôn đau đớn không?”. Thường ung thư bị hiểu lầm là một bệnh nan y và rất đau đớn. Lúc ban đầu, bệnh nhân thường không thấy đau và cơ thể rất khỏe mạnh. Thế nên một người khỏe mạnh mới thấy một cục u trong vú, cục này lại đau nhức thì thường không phải là ung thư.

Do đó thật là dễ hiểu (nhưng chắc chắn cũng làm nhiều người kinh ngạc) là trong các triệu chứng báo động ung thư không thấy nhắc đến cơn đau. Vậy ung thư mới đầu rất lặng lẽ và không gây đau đớn, khiến ai cũng “dễ nguôi” với các triệu chứng báo động.

Trái lại khi có đau đớn thì bệnh lại nhiều, bệnh nhân tin là có “báo động” thì thật ra đã qua tình trạng báo động. Còn lúc ban đầu mà thấy đau đớn và lo sợ mắc bệnh ung thư thì lại là báo động giả. Thật ra khi cơn đau trở nên thường xuyên thì đó là chứng trễ tràng của căn bệnh.

Còn bệnh ở thời kỳ trễ mà gây đau đớn cũng là điều rất dễ hiểu: tàn phá các mô do ung thư hay do nhiễm trùng, sự co kéo các tạng phủ hoặc lớn lên làm bít các đường thông thường ở những vùng như đầu, cổ, họng, bọng đái…  chứng nhiễm trùng có thể gây nên cơn đau rất kinh khủng.

Các triệu chứng báo động ung thư 

– Có sự thay đổi thói quen của ruột và bọng đái.
– Một chỗ lở loét không chịu lành.
– Chảy máu hoặc tiết dịch (ứa nước, ứa chất nhờn hoặc máu) bất thường.
– Một chỗ dày lên hoặc một cục u ở vú hoặc ở nơi nào đó trong cơ thể.
– Ăn không tiêu hoặc nuốt khó.
– Có thay đổi rõ ràng tính chất của một “mụn ruồi duyên”.
– Ho dai dẳng hoặc khàn tiếng.

Ung thư trễ tràng có thể gây đau đớn vì viêm của các niêm mạc, các hốc miệng, âm đạo, trực tràng, do bị ung thư ăn loét. Tất cả ung thư đều có thể gây đau đớn, bất cứ là ở cơ quan nào bị bệnh. Bướu càng lớn, càng lan tràn với các di căn thì các cơn đau càng nhiều và càng khó trị.

“Sụt cân, suy nhược, không thèm ăn có phải là triệu chứng báo động không?”. Một người ung thư vú có thể rất béo tốt, thậm chí ở giai đoạn bệnh trễ rồi. Một người bị ung thư cổ tử cung lúc ban đầu chỉ bị rong huyết thôi, tổng trạng không có gì thay đổi.

Ung thư tuyến giáp trạng thường xuất hiện như một bướu cổ bề ngoài rất bình thường. Một ông cụ 70 tuổi chỉ ho húng hắng, vẫn ăn uống khá ngon miệng, mà chụp hình phổi thì thấy ung thư khá to không còn mổ được nữa.

Vậy các tình trạng suy nhược, sụt cân, không thèm ăn không phải không thể là do ung thư, nhưng thường là ung thư giai đoạn trễ, vả lại đừng quên các tình huống trên phần lớn là do các nguyên nhân khác, nhất là các vấn đề tâm lý và xúc động.

Không nên giao phó bệnh cho thầy lang

Có khi vài triệu chứng chức năng cũng đủ giúp xác định rõ: ho dai dẳng, khạc đàm, phân lẫn máu, xuất huyết âm đạo. Các triệu chứng này hướng dẫn bác sĩ chú tâm kỹ vào một bộ phận nào đó của cơ thể. Khi xuất hiện một sự thay đổi sức khỏe trong người mà không rõ nguyên nhân, hoặc một triệu chứng rất thông thường nhưng dai dẳng và nhiều khi không gây đau đớn gì, chúng ta nên đi khám.

Thầy thuốc sẽ hướng dẫn nên làm gì. Đừng “phát hoảng” lên, vì phần lớn không phải là ung thư, mà ngay cả khi bị ung thư mà chịu khám sớm, được phát hiện sớm thì cơ may khỏi bệnh là rất cao.

Các triệu chứng báo động giúp tránh một số sai lầm chết người trong điều trị. Các phương cách điều trị trong dân gian có nhiều điều rất hay và rất quý báu. Tuy nhiên, về phần ung thư thì các phương cách trên có thể gây tai hại vì kiến thức về căn bệnh này chưa được phổ biến rõ (nhiều “thầy”, nhiều “cô” cứ ngỡ bệnh ung thư có mủ và thối), vì căn bệnh còn bị hiểu lầm quá nhiều.

Việc đắp các loại cây hút mủ, việc châm kim…  một cách không cảnh giác trên một cục u không đau là xuất phát từ tính “tĩnh” của cục bướu, của triệu chứng báo động một ung thư vú mà quần chúng chưa được báo động. Hiểu rõ triệu chứng báo động ung thư, một mặt cảnh giác người bệnh từ nay không được thờ ơ, không giao phó căn bệnh nghi ngờ cho người không chuyên môn, mặt khác làm chùn bước các “thầy lang” trị bách bệnh đã “cam đoan trị hết ung thư 100%”.

Theo GS Nguyễn Chấn Hùng / NLĐ

nhuc dau

10 triệu chứng bệnh không nên bỏ qua

Có những triệu chứng bệnh rầm rộ khiến ta không chịu nổi và phải đi khám bệnh ngay, ví dụ như đau ngực, đau bụng, chảy máu… Tuy nhiên, một số bệnh chỉ có triệu chứng thoáng qua nên đôi khi ta bỏ qua hoặc chần chừ, có khi điều trị chậm trễ dẫn đến hậu quả khó lường.nhuc dau

Sau đây là 10 triệu chứng bệnh không nên bỏ qua:

1. Sụt cân không giải thích được

Sụt cân nghiêm trọng là sụt 5% trọng lượng cơ thể cơ thể trong vòng 1 tháng hoạc 10% trong vòng từ 6 đến 12 tháng. Sụt cân do chủ ý như ăn kiêng và tập thể lực để giảm cân không có gì phải lo và sụt cân do làm việc quá sức cũng không đáng ngại vì khi được nghỉ ngơi đầy đủ, cơ thể sẽ nhanh chóng hồi phục. Đáng ngại nhất là những trường hợp sụt cân không rõ nguyên nhân, như khi ta vẫn ăn uống và làm việc bình thường mà người cứ gày sút. Sụt cân không giải thích được có thể là do cường giáp, trầm cảm, ung thư bệnh gan, đái tháo đường, ruột kém hấp thu và một số bệnh khác.

2. Sốt kéo dài

Sốt trên 38,3oC kéo dài hơn hai tuần được gọi là sốt kéo dài. Nếu người bệnh chỉ có triệu chứng sốt thì việc chẩn đoán rất khó khăn. Các triệu chứng khác kèm theo sốt thường gặp là lạnh run, đổ mồ hôi, chán ăn, sụt cân… Nguyên nhân gây sốt kéo dài có thể là do bệnh nhiễm trùng lao, thương hàn, nhiễm trùng tiểu, sốt rét, nhiễm HIV, bệnh lupus, viêm khớp dạng thấp, ung thư…

3. Khó thở

Cảm thấy ngột ngạt, thiếu không khí hoặc thở nhanh khi nghỉ ngơi hay sau khi gắng sức nhẹ, thở hổn hển, khò khè… là những biểu hiện của khó thở. Đây là một trường hợp cấp cứu nội khoa nên người bệnh cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Nguyên nhân gây ra khó thở có thể do tim như suy tim, nhồi máu cơ tim; do phổi như viêm phế quản, viêm phổi, hen suyễn, bệnh mạch máu phổi hoặc lo âu…

4. Thay đổi thói quen đi tiêu

Cần khám bệnh ngay nếu bạn có các triệu chứng như tiêu chảy nặng kéo dài trên 2 ngày hoặc tiêu chảy nhẹ nhưng kéo dài hơn một tuần; táo bón trên 2 tuần; tiêu ra máu hoặc đi tiêu ra phân đen như bã cà phê. Nguyên nhân gây ra thay đổi thói quen đi tiêu có thể là do nhiễm trùng, viêm ruột, ung thư đại tràng hay trực tràng, chảy máu đường ruột…

5. Nhức đầu

Nhức đầu đột ngột hoặc nhức đầu dữ dội (đặc biệt ở đàn ông và phụ nữ trên 50 tuổi). Cần kiểm tra sức khỏe ngay nếu bạn bị nhức đầu đột ngột hoặc dữ dội như búa bổ, nhức đầu kèm sốt, cổ cứng, nổi ban, co giật, tê, yếu liệt, nhìn không rõ, nói khó khăn, nuốt khó.

Nguyên nhân gây ra các triệu chứng trên có thể là do đột quỵ, viêm mạch máu, viêm màng não, u não, phình mạch máu não hoặc xuất huyết não sau chấn thương não.

6. Mất thị lực thoáng qua, mất kiểm soát vận động hoặc lời nói

Nếu bạn có triệu chứng mất thị lực thoáng qua trong vài phút, có khả năng bạn bị đột quỵ hoặc thiếu máu não. Cần cấp cứu ngay khi bạn có những dấu hiệu sau: đột ngột yếu hoặc tê ở mặt, tay hoặc chân ở một bên cơ thể (nửa người); đột ngột nhìn không rõ hoặc không thấy gì cả; không nói được, bị rối loạn ngôn ngữ, nói những câu khó hiểu; nhức đầu như búa bổ; đột ngột chóng mặt, loạng choạng hoặc té ngã.

7. Dấu hiệu tia chớp sáng

Đột ngột nhìn thấy tia chớp sáng có thể là khởi đầu của hiện tượng bóc tách võng mạc. Cần đi khám bệnh ngay để tránh mất thị lực vĩnh viễn.

8. Cảm giác mau no dù ăn rất ít

Cảm giác mau no hơn bình thường sau khi ăn kèm theo các triệu chứng buồn nôn hoặc nôn kéo dài trên 1 tuần là những dấu hiệu báo động. Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra các triệu chứng này như ung thư tuyến tụy, ung thư bao tử, ung thư buồng trứng, viêm loét bao tử hay tá tràng…

9. Nóng, đỏ hoặc sưng khớp

Nóng, đỏ hoặc sưng khớp là các dấu hiệu báo động một khớp bị nhiễm trùng cần phải điều trị khẩn cấp để tránh hư khớp và ngăn không cho vi trùng vào máu. Các nguyên nhân khác có thể là bệnh gút, viêm khớp dạng thấp…

10. Thay đổi tri giác

Cần đi khám bệnh ngay nếu phát hiện bạn bị lú lẫn hoặc hôn mê từ từ hay đột ngột; mất khả năng định hướng trong không gian và thời gian; rối loạn hành vi đột ngột; có ảo giác. Thay đổi tri giác và hành vi có thể do nhiễm trùng, viêm màng não, chấn thương đầu, đột quỵ, hạ đường huyết hoặc do thuốc…./.

BS Nguyễn Thanh Hải (Kiến thức ngày nay)