Tag Archives: Thực Phẩm

Giảm cân bằng thực phẩm

Phần lớn các chế độ ăn kiêng đều giúp mọi người giảm cân nhưng phương pháp nào có thể duy trì tác dụng lâu dài?. Một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy, ăn vừa phải chất béo và nhiều tinh bột là cách tốt nhất.

giam can an toan

Phương pháp giảm cân an toàn

Theo kết quả nghiên cứu, mọi chế độ ăn hạn chế lượng thức ăn ở mức 1.500 calo/ngày đều có tác dụng giảm cân trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, chúng không giúp ích được là bao cho việc hạ tỷ lệ cholesterol và huyết áp. Chỉ có chế độ ăn với lượng chất béo vừa phải và nhiều tinh bột mới có thể giúp mọi người khoẻ mạnh trong một thời gian dài. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chế độ ăn sử dụng ít chất béo có thể hạ thấp tỷ lệ cholesterol máu, nhưng lại không phù hợp về mặt dinh dưỡng.

Chế độ ăn được khuyến cáo bao gồm: Không quá 30% năng lượng từ chất béo, hạn chế đạm ở mức 20% và tăng cường sự đa dạng của tinh bột, lấy từ hoa quả, rau, và hạt. Như vậy, có thể nhanh chóng thoả mãn cảm giác đói mà chỉ cần ít năng lượng. Chế độ ăn này là phù hợp nhất về mặt dinh dưỡng, có ảnh hưởng tốt nhất tới nồng độ cholesterol và mỡ độc hại trong máu, giúp kiểm soát lượng đường máu.

Advertisements

11 loại “thực phẩm tình yêu” cho nam giới

Nếu chăm ăn cam quýt, khả năng sản xuất tinh trùng của bạn sẽ vượt trội so với những người ít hay không ăn loại quả này.

cam-quyt
Cam quýt giúp tăng sức mạnh cho đàn ông.

Các kết quả nghiên cứu tại Mỹ phát hiện nhiều loại thực phẩm vừa giàu dinh dưỡng giúp vừa giúp kích thích tuyến nội tiết của cơ thể nam sản sinh hormon nam và giảm thiểu các chất cản trở khả năng cương cứng, khiến bạn tình được thỏa mãn. Sau đây là một số thực phẩm phổ biến, dễ tìm:

Cam quýt: Là loại quả chứa nhiều vitamin C. Các nhà nghiên cứu ở Đại học Texas, Mỹ, cho biết khi đàn ông nhận được ít nhất 200 mg vitamin C mỗi ngày, khả năng sản xuất tinh trùng sẽ cao hơn hẳn những người không ăn hay ít ăn các loại quả này.

Trái ớt cay: Là gia vị có chứa nhiều capsaicin, một hợp chất làm giãn nở các mạch máu hay thể hang ở dương vật, khiến máu dồn về gây cương cứng, giúp tăng cường phong độ trong khi ân ái.

Quả việt quất: Nó được coi như một loại Viagra tự nhiên cho phái nam mà không hề gây tác dụng phụ. Quả việt quất giàu chất xơ hòa tan nên giúp loại bỏ các cholesterol dư thừa khỏi máu trước khi nó hấp thụ và lưu trữ ở thành huyết mạch. Điều này giúp ngăn tình trạng cholesterol xấu bám vào thành huyết quản khiến lòng mạch thu hẹp. Lòng mạch giãn nở giúp máu dồn về dương vật nhiều hơn, gây cương cứng. Để đạt được tác dụng tối đa, cần ăn quả việt quất mỗi tuần 3 – 4 lần và ăn thường xuyên, đều đặn.

Rau cần tây: Nó có khả năng kích thích tình dục tốt bởi chứa nhiều androsterone, một hormon không mùi được tiết ra ở nam giới thông qua tuyến mồ hôi, có tác dụng làm cho phụ nữ phấn khích.

Quế: Mùi hương của quế không những giúp phái mạnh hấp dẫn phụ nữ mà còn giúp họ “khuynh đảo” tốt hơn trong chuyện ái ân. Theo các nhà khoa học thuộc Hiệp hội Nghiên cứu và điều trị qua mùi vị ở Chicago, Mỹ, những người đàn ông thường xuyên ngửi quế sẽ cương dương tốt hơn so với những người khác.

Quả sung: Trong quả sung có nhiều acid amino, làm tăng cường hoạt động tình dục. Ngoài ra, việc ăn sung còn giúp cho phái mạnh tăng cường phong độ trong chuyện ấy.

Chuối: Chuối là loại quả giàu kali và vitamin B, chất liệu rất cần cho sự sản xuất hormon kích thích sinh dục nam, giúp nam giới có thể kiểm soát chuyện ân ái.

Chocolate: Nó chứa chất kích thích làm tăng sự nhạy cảm của da phụ nữ, khiến họ dễ có khoái cảm hơn. Với nam giới, thực phẩm này cung cấp những hợp chất giống như hormon kích thích sinh dục được sinh ra trong cơ thể đàn ông mỗi khi “yêu”.

Hải sản: Hàu, tôm hùm cùng nhiều loại hải sản khác có tác dụng tăng cường sức bền bỉ và khoái cảm vì chứa nhiều kẽm, một khoáng chất giúp cơ thể sản sinh testosterone – chất kích thích sinh dục nam.

Trứng: Món ăn giàu vitamin nhóm B này có công hiệu làm giảm lo lắng, căng thẳng. Nó cũng là loại vitamin có tác dụng duy trì nhu cầu tình dục cao. Trong lòng đỏ có vitamin E giúp tăng cường khả năng sinh lý khi “yêu”.

Gan động vật: Trong gan động vật có nhiều glutamine, chất tăng cường hệ miễn dịch và khơi gợi sự ham muốn cho phái mạnh.

Tại sao nên ăn Cà rốt


ca rot
Củ cà rốt là phần rễ của cây cà rốt, được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới và luôn sẵn có quanh năm. Cà rốt có thể chế biến bằng nhiều cách, như ăn sống (xay sinh tố, trộn với salad – giấm.), nấu chín (nấu xúp với khoai tây, làm mứt, nấu thành si-rô.); là thực phẩm thường dùng trong những món chay hoặc để thay thế cho các loại thực phẩm khó tiêu (thịt, chất béo.). Khi rang khô và nghiền thành bột, nó có thể được dùng để thay thế cà phê. Người ta còn dùng si-rô cà rốt làm chất tạo ngọt. Dầu cà rốt dùng để tạo mùi thơm và chế tạo nước hoa…

TẠI SAO NÊN ĂN CÀ RỐT?

Không có loại hoa, quả, củ nào chứa nhiều carotene (tiền vitamin A) như cà rốt, vì vậy chất này đã được đặt tên từ chữ cà rốt (Carrot). Lượngcarotene ăn vào sẽ được cơ thể chuyển hóa dễ dàng thành vitamin A ở ruột và gan. Vì vậy, nhiều người cho rằng ăn nhiều cà rốt sẽ làm “Sáng mắt”, tuy nhiên điều này không hoàn toàn đúng, vì vitamin A có tác dụng phòng ngừa bệnh khô mắt, quáng gà, mù lòa ở trẻ em do thiếu vitamin A chứ không làm người bình thường sáng mắt thêm. Ngoài ra, cà rốt cũng là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có nhiều chất bổ khác như các vitamin A, B, C, D, E, acid folic, kali và sợi Pectin (giúp hạ cholesterol máu). Những nguyên tố như can-xi, đồng, sắt, magnê, măng-gan, phospho, lưu huỳnh có trong cà rốt ở dạng dễ hấp thu vào cơ thể hơn bất kỳ dạng thuốc bổ nào. Trong cà rốt còn có nhiều chất chống oxy hóa quan trọng như: beta carotene, alpha carotene, Phenolic acid, Glutathione… đã được chứng minh là có khả năng làm giảm nguy cơ mắc phải nhiều bệnh như tim mạch, ung thư

NÊN ĂN CÀ RỐT SỐNG HAY NẤU CHÍN?

Không giống hầu hết các loại rau quả khác, cà rốt đã nấu chín hay xay ép thành nước đem lại nhiều chất dinh dưỡng hơn so với ăn sống. Nguyên nhân là cà rốt sống có vách tế bào cứng, làm cơ thể chỉ chuyển hóa được < 25% lượng beta carotene thành vitamin A. Tuy nhiên, khi cà rốt đã được nấu chín hay xay ép thì các vách tế bào cellulose dày cứng sẽ bị phá vỡ và phóng thích ra chất dinh dưỡng, giúp cơ thể hấp thu hơn 50% carotene. Dĩ nhiên, nếu nấu quá lâu thì cũng làm giảm thành phần dinh dưỡng và mùi vị của cà rốt.

Theo kết quả nghiên cứu của Ðại học Arkansas (Mỹ) đăng trên Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm (8/2000) cho thấy: Cà rốt nấu chín (với một ít dầu mỡ) hay xay ép ra nước sẽ làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa (beta carotene, Phenolic acid) và giúp cơ thể dễ hấp thu hơn 34,3% so với ăn cà rốt sống.

Thông thường cà rốt được cắt thành mảnh nhỏ, vuông vức và ăn sau khi đã luộc hay hấp. Tuy nhiên, chế biến và ăn theo kiểu này sẽ làm mất đi 50% lượng protein và carbohydrate hòa tan. Vì vậy nên nấu chín nguyên củ cà rốt (đã gọt vỏ) rồi sau đó mới cắt nhỏ.

ĂN CÀ RỐT ÐÚNG CÁCH

Giá trị dinh dưỡng của thực phẩm tươi sẽ giảm theo thời gian sau khi chế biến và tồn trữ. Vì vậy, để lấy được nguồn dinh dưỡng tối đa từ cà rốt thì chỉ nên dùng loại tươi nhất và đã qua đun nấu (tốt nhất là luộc sơ qua). Ngoài ra cần phải nhai nhuyễn cà rốt khi ăn. Ðể việc hấp thu vitamin A từ thực phẩm được tốt hơn thì nên chế biến cùng với một ít dầu, mỡ.

Nếu ăn hay uống cà rốt quá nhiều hoặc quá lâu có thể gây vàng da ở lòng bàn tay hay bàn chân. Nguyên nhân do tích tụ carotene từ cà rốt vào máu quá nhiều và làm thấm ra ngoài da. Tình trạng này không gây nguy hiểm gì và dễ kiểm soát (khác với ngộ độc vitamin A gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, ói, lồi mắt, khô tróc da…). Chỉ cần ngưng hay giảm ăn cà rốt một thời gian thì sẽ hết vàng da (mỗi ngày ăn 1 củ cà rốt nhỏ bằng nắm tay em bé là đủ nhu cầu vitamin A từ beta carotene). Nhu cầu vitamin A hàng ngày là: 1.500-3.000 IU/ trẻ em, 3.000-5.000 IU/người lớn (1-2,5mg), 5.000-6.000 IU/phụ nữ mang thai, 6.000-8.000IU/phụ nữ cho con bú và carotene là 2-5mg/ngày/người lớn.

Ðể tránh ngộ độc Phospho từ thuốc diệt côn trùng còn sót lại trên cà rốt, trước khi ăn ta nên rửa sạch, gọt vỏ và cắt bỏ 2 đầu.

Loại cà rốt hoang dại Queen Annes Lace có thể gây độc khi ăn. Lá của nó chứa Furocoumarins có thể gây viêm da khi tiếp xúc phải, đặc biệt khi ướt. Hạt có thể gây sẩy thai.

BỆNH NHÂN TIỂU ÐƯỜNG CÓ DÙNG ÐƯỢC CÀ RỐT?

Cà rốt đã qua đun nấu có chỉ số đường máu (Glycaemic index) là 49, nghĩa là sau khi ăn sẽ làm nồng độ đường trong máu không tăng quá cao (< 50 là tốt). Nguyên nhân do đường trong cà rốt có cấu tạo phức tạp nên được tiêu hóa chậm hơn, bảo đảm cảm giác no kéo dài hơn. Tuy nhiên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn hay chỉ dùng ít nước ép cà rốt.

CÁCH CHỌN VÀ DỰ TRỮ CÀ RỐT

Chọn mua những củ cà rốt có màu tươi sáng, cứng chắc, thẳng và trơn láng. Nếu củ cà rốt còn cành lá thì chọn loại có cành lá còn tươi xanh và ẩm ướt. Không mua loại đã mềm, khô đét, nứt nẻ hay cong quẹo. Cà rốt có màu cam càng đậm thì càng chứa nhiều beta carotene. Những củ cà rốt nhỏ, non thường mềm và vị dịu nhưng cà rốt chín lại thường ngọt, chắc và đầy đủ hương vị hơn.

Củ cà rốt dù già hay non, nếu lõi ở giữa càng nhỏ thì càng ngọt vì đường của cà rốt tập trung ở lớp ngoài. Do đó, nếu thấy những củ cà rốt có nhiều cành lá ở gốc hay phần vai to dày thì thường có lõi to ở giữa và lạt hơn.

Cần cắt bỏ cành lá càng sớm càng tốt vì chúng sẽ rút đi vitamin, muối khoáng và nước từ phần củ. Ngoài ra khi chế biến, cần phải cắt bỏ luôn đầu kia và gọt vỏ. Lưu trữ cà rốt còn nguyên củ (không rửa nước và chưa cắt nhỏ) trong bao nylon bịt kín và để trong hộc cất rau quả của tủ lạnh. Chỉ nên rửa cà rốt ngay trước khi sử dụng. Thường có thể lưu trữ được cà rốt tươi hơn 1-2 tuần. Tránh để gần các loại trái cây khác, đặc biệt là táo (tây) và đào vì chúng sẽ phát ra hơi ethylene khi chín, làm cà rốt có vị hơi đắng, giảm thời gian bảo quản của cà rốt và các loại rau quả khác.

Cà rốt sẽ bị mềm khi để ngoài không khí. Nếu bị mềm, có thể làm cứng lại bằng cách ngâm vào một tô nước đá.

THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA CÀ RỐT

Trong 230g nước ép cà rốt chứa: 70,8 calories; 0,1g chất béo toàn phần; 0g chất béo bão hòa; 0mg cholesterol; 213,3mg natri; 0,6g chất xơ; 1,3g protein; Tối thiểu 27.000IU vitamin A; 20,550IU beta carotene; 6.388 IU alpha carotene; 32,2mg calci; 0,6mg sắt.

(Theo kết quả thử nghiệm của Phòng thí nghiệm nghiên cứu thực phẩm Quốc gia Mỹ).

Tác giả : BS. HUỲNH BÁ LONG

Không nên dùng đồ nhựa đựng thức ăn nóng

Đồ nhựa có thể chứa nhiều chất phụ gia độc hại như chì, kẽm… gây ngộ độc và ảnh hưởng đến giới tính, nhất là khi bạn dùng chúng đựng thức ăn nóng.

TS Nguyễn Cửu Khoa, phó viện trưởng Viện Công nghệ hóa học, cho biết: Đồ nóng bỏ trong túi nilông nhựa rất dễ độc… Thành phần của các loại túi nhựa này không chứa độc, nhưng những chất phụ gia làm cho nhựa mềm, dẻo lại có khả năng gây độc cho người.do nhua

TS Khoa giải thích: Những túi nilông này được làm từ nhựa PE (polyetylen) hoặc nhựa PP. Và khi trái bắp đang bốc khói (nhiệt độ 70- 80 độ C) cho vào túi cầm thì những chất phụ gia được dùng để tạo nên độ dẻo, dai ở túi nilông có phản ứng. Vì thế, khó mà biết được những chất đó sẽ độc hại như thế nào đối với người.

Ông lo ngại khi nhiều người vẫn vô tư dùng túi nhựa để đựng cơm, canh và các thực phẩm nóng khác. Vì những loại túi này hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa một chất cực độc ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam, đó là chất DOP (dioctin phatalat).

“DOP là một chất hóa dẻo, có tác dụng giống như hormon nữ vì thế rất có hại cho nam giới và trẻ em khi cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh. Nếu bị nhiễm chất này lâu dài, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn trẻ em nữ có nguy cơ dậy thì quá sớm”. Độc hại như vậy nhưng theo TS Khoa, DOP tồn tại 5-10% trong các chất hóa dẻo được sử dụng.

TS Phạm Thành Quân – khoa hóa Trường ĐH Bách khoa TP.HCM – cho biết: nếu đồ dùng làm từ nhựa melamine, PEHD thì không độc nhưng giá rất cao nên chưa thông dụng. Hiện nay, các loại đồ nhựa thông dụng như rổ, bát, nồi, đũa, bình nước… vẫn chủ yếu được sản xuất từ loại nhựa PVC. Với chất liệu này, đồ dùng có thể phóng thích clor, gây ngộp thở, ngộ độc cho người dùng.

Tránh cong, vênh, sứt, mẻ

Cũng theo TS Quân, nhiều cơ sở sản xuất còn dùng nhựa kém chất lượng, nhựa tái sinh để sản xuất các đồ đựng, bảo quản thực phẩm. “Đồ dùng nhựa kém chất lượng khi bị tác động bởi nhiệt độ, hoá chất hay thực phẩm sẽ dễ thôi nhiễm các chất độc vào thực phẩm gây độc cho người…”. Vì thế, để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro từ đồ dùng nhựa, không nên dùng những đồ sứt, mẻ, cong, vênh…

PGS-TS Lê Hoàng Ninh, viện trưởng Viện Vệ sinh y tế công cộng TP.HCM, cho biết ngay cả những đồ nhựa được làm từ nhựa PE, PP, melamine, PEHD… cũng dễ bị độc nếu chúng bị vênh, cong, sứt, mẻ… “Các chất phụ gia sử dụng trong công nghiệp hóa dẻo quá nhiều, khó kiểm soát; thường là hỗn hợp của nhiều chất như: ổn định, xúc tác, bôi trơn, chống thấm… Khi đồ dùng bị sứt, mẻ, cong, vênh, lớp bảo quản bề mặt đã không còn giữ được tác dụng của nó, vì thế rất có nguy cơ bị phóng thích ra những chất độc hại” – PGS-TS Ninh khuyến cáo.

Theo VietnamNet

Thuốc điều trị viêm gan mạn tính do virut B

Viêm gan virut B luôn là vấn đề có tính thời sự, nhất là ở các nước châu Á và châu Phi. Viêm gan virut B (VGB) là một bệnh truyền nhiễm ở người do virut viêm gan B (HBV) gây nên và là một bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

thuoc viem gan b

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hơn 1/3 dân số thế giới đã từng bị nhiễm HBV với khoảng 400 triệu người mang HBV mạn tính (HBsAg dương tính). Hằng năm trên thế giới có khoảng hơn một triệu người tử vong do biến chứng của VGB mạn tính, xơ gan, ung thư gan và bệnh gan giai đoạn cuối. Mục đích điều trị VGB mạn tính là làm sạch virut, cải thiện quá trình viêm và hoại tử ở gan. Tuy nhiên, để điều trị VGB mạn tính có kết quả và thành công là một vấn đề hết sức nan giải.

Với mục tiêu trên, cho đến tháng 12/2006 đã có 4 loại thuốc điều trị HBV đã được Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận là: interferon, lamivudin, adeforvir và entercavir.

– Interferon: Interferon có hai loại a và b trong đó interferon a là thuốc sử dụng khá rộng rãi trong điều trị VGB và viêm gan mạn tính hơn một thập kỷ nay. Cơ chế tác dụng kháng virut của interferon a đã được biết khá rõ. Tuy nhiên, tác dụng kháng virut này là không đặc hiệu và hiệu quả tác dụng cũng còn hạn chế. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng interferon a liều 3-5 triệu UI trong thời gian 4-6 tháng chỉ khoảng 30-40% chuyển đảo huyết thanh và khoảng 10% mất HBV-DNA. Tuy nhiên, sau ngừng thuốc một thời gian gần 5% bệnh nhân tái phát, xuất hiện HBV- DNA trở lại, mặt khác interferona nhiều tác dụng phụ, cần điều kiện bảo quản khá nghiêm ngặt (nhiệt độ từ 2 – 8oC), nên khi vận chuyển đi xa gặp nhiều khó khăn.

Hiện nay, người ta đã sản xuất và sử dụng peg interferona – 2a để điều trị VGB, tuy nhiên giá thành đắt và có nhiều phản ứng phụ.

– Lamivudin: Là loại thuốc tương đồng nucleoside được  sử dụng điều trị viêm gan B mạn tính từ 10 năm nay. Lamivudin cũng tương tự như các chất nucleoside gây ức chế quá trình tổng hợp DNA của virus. Sử dụng lamivudin liều 100mg hằng ngày sau 12 tháng thấy tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh là 16 – 18% (so với nhóm giả dược chỉ có 4 – 6% chuyển đảo huyết thanh).

Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng hiện tượng kháng thuốc xảy ra tỷ lệ thuận với thời gian dùng thuốc. Sau 4 năm sử dụng tỷ lệ kháng thuốc lên tới 70% và hơn nữa, khả năng tái phát sau khi dùng thuốc là khá cao. Thuốc ít độc, dùng kéo dài gây tốn kém.

– Adeforvir: Cũng là thuốc thuộc nhóm tương đương nucleoside được sử dụng nhiều nước trên thế giới và được nhập vào Việt Nam từ tháng 11/2004. Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virut. Người ta nhận thấy tỷ lệ kháng thuốc của adeforvir ngày càng cao và có những cơn bùng phát viêm gan cấp và nặng trên bệnh nhân ngừng thuốc.

– Entercavir (tên thương mại của Baraclude) là một đồng đẳng nucleoside, một chất guanosine có hoạt tính chọn lọc kháng lại HBV. Tên hóa học của entecavir là 2 – amino – 1,9- dihydro – 9[(1S,3R,4S) – 4hydroxy – 3 –(hydroxymethyl) – 2 menthylenecyclopentyl]  6 H – purin – 6 – one, monohydrate. Công thức phân tử là C12H15N5O3-H2O trọng lượng phân tử 295,3 .

Entecavir được sử dụng trong điều trị viêm gan B từ đầu năm 2005, tỷ lệ kháng thuốc chưa thấy công bố sau 2 năm điều trị. Song, cũng có một số ít trường hợp kháng thuốc được phát hiện ở những ca đã kháng lamivudin.. Đây là loại thuốc điều trị viêm gan B mạn tính bằng cách giảm số lượng virut, giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Thuốc chống virut với cơ chế tác dụng ức chế chọn lọc cả giai đoạn tổng hợp trong quá trình nhân bản (khởi đầu, sao chép ngược và tổng hợp ADN) của HBV trong gan. Baraclude được chỉ định điều trị cho người lớn có bằng chứng virut đang sao chép hoặc bị tăng dai dẳng các aminotranserase huyết thanh (ALT hoặc AST), hay bệnh đang hoạt động về phương diện mô học. Thời gian điều trị tùy theo đáp ứng, thường là từ 24-48 tuần.

Gần đây, FDA chấp thuận đưa vào dược phẩm mới chống virut có tên gọi telbivudin, thuốc có ít tác dụng phụ, sau 2 năm thử nghiệm đã tỏ ra có hiệu quả. Thuốc một mặt chữa trị tốt hơn, mặt khác lại có tác dụng tốt với các trường hợp đã kháng với các thuốc trước đó. Ngoài ra, ưu điểm của telbivudin là có thể kết hợp với các dược phẩm cũ đã được sử dụng để điều trị diệt virut viêm gan B tốt hơn. Thuốc hiện mới được bán ở Mỹ, trong tương lai gần sẽ được bán rộng rãi ở các thị trường dược trên thế giới.

Việc phát hiện qua các triệu chứng như mệt mỏi, ngứa, sốt nhẹ, đau tức vùng gan, nước tiểu sẫm màu… và qua xét nghiệm chứng minh cần được chữa trị kịp thời tránh chuyển sang mạn tính. Các thuốc trên đây thực chất không thể chữa trị được dứt điểm bệnh gan đã mắc mà chỉ có vai trò ngăn chặn và hoặc tái tạo một phần, giảm thiểu sự phá hoại của virut cải thiện các triệu chứng bệnh lý mà thôi. Tốt nhất và trước tiên phải biết giữ gìn cho gan khỏe mạnh.

Lưu ý trong ăn uống với người bệnh cao huyết áp

Ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và điều trị với bệnh nhân cao huyết áp. Sau đây là một số điều người mắc cao huyết áp cần lưu ý trong cách ăn uống cũng như đảm bảo chất lượng cuộc sống cho mình.Thực-phẩm-tốt-cho-bệnh-cao-huyết-áp-300x193

Giảm cân nếu có thừa cân, bằng cách:

*  Giảm cung cấp năng lượng bằng các chế độ ăn phù hợp như:

–          Ăn thịt nạc, bỏ da;

–          Ăn các món luộc, hấp, kho, nướng thay cho chiên, quay, xào;

–          Uống sữa không chất béo;

–          Ăn nhiều rau, trái cây … thay cho thức ăn ngọt;

–          Giảm bớt kích cỡ các bữa ăn;

–          Ăn chậm, nhai kỹ;

–          Ăn nhiều vào buổi sáng, tránh ăn nhiều vào buổi tối

* Tăng tiêu hao năng lượng với những hoạt động như:

–          Chơi thể thao > 30 phút hầu hết các ngày;

–          Tập thể dục khoảng 1 giờ hầu hết các ngày trong tuần;

–          Năng động trong mọi hoạt động, bước > 5.000 – 10.000 bước/ ngày

Kiểm soát chỉ số khối cơ thể (BMI) nên có: 18.5 – 22
Cân nặng (kg)
Cách tính: BMI = ———————-
(Chiều cao)2 (m)

Giảm lượng muối tiêu thụ < 6g/ ngày, bằng cách: hạn chế sử dụng những thức ăn chế biến sẵn như mì ăn liền, giò chả, lạp xưởng, đồ hộp…; Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà…; Giảm 1 số thói quen của người Á Đông như chấm muối, chấm nước mắm … khi không thật sự cần; Bớt dùng bột ngọt …

Giảm các yếu tố bất lợi trong thực phẩm: rượu, bia, cafein, chất béo bão hòa, thực phẩm calori rỗng …

Tăng cường các yếu tố bảo vệ: thực phẩm giàu K, Mg, Ca, các chất chống oxy hóa, chất xơ, w-3/ w-6 và những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ … như: rau cải, cà chua, bầu bí, khóm, mía , cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen… (500g – 600g rau trái, 30-40g đậu đỗ/ngày)

(Theo medinet.hochiminhcity.gov.vn)

món ăn

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn

Giá trị dinh dưỡng của thức ǎn phụ thuộc vào thành phần hóa học của các loại thức ǎn, các chất dinh dưỡng trong thức ǎn, sự tươi sạch của thức ǎn và cách nấu nướng chế biến loại thức ǎn đó. Thức ǎn nào cũng có đầy đủ các chất dinh dưỡng đó là chất đạm, chất béo, tinh bột cùng vitamin và muối khoáng nhưng có loại thức ǎn nhiều chất dinh dưỡng này có loại nhiều chất dinh dưỡng khác vì vậy nên dùng phối hợp nhiều loại thức ǎn để hỗ trợ và bổ sung cho nhau nhằm đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng. Thức ǎn được chia thành các nhóm sau:

 – Thức ǎn giầu chất đạm (protid)
 – Thức ǎn giầu chất béo (lipid)
 – Thức ǎn giầu tinh bột (glucid)
 – Thức ǎn cung cấp chất khoáng và vitamin
 A. Thức ǎn giầu chất đạm
 Thức ǎn giầu chất đạm gồm 2 loại là thức ǎn giầu đạm nguồn gốc động vật và nguồn gốc thực vật. Đạm động vật ưu điểm là có đủ 8 acid amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối còn đạm thực vật thường thiếu một hoặc nhiều acid amin cần thiết và ở tỷ lệ không cân đối. Vì vậy nên dùng đạm động vật để hỗ trợ cho đạm thực vật hoặc phối hợp những đạm thực vật với nhau.
 I Thức ǎn đông vật:
 1 Thịt:
 Hàm lượng chất đạm trong các loại thịt như thịt lợn, gà, vịt, bò, chim…đều xấp xỉ như nhau nhưng còn tuỳ theo thịt nạc hay mỡ mà hàm lượng chất đạm cao hay thấp. Về chất lượng chất đạm của thịt đều có đầy đủ các acid amin cần thiết và ở tỷ lệ cân đối, có tác dụng hỗ trợ tốt cho ngũ cốc.
 * Chú ý khi chế biến thịt: Thịt nướng, rang và nhất là ướp đường trước khi nướng, rang làm tǎng mùi vị, sức hấp dẫn nhưng làm giảm giá trị sinh học của thức ǎn. Đối với trẻ nhỏ không nên cho ǎn thịt nướng, rang khô vì giảm chất dinh dưỡng và khó hấp thu.
 – Thịt bị ôi thiu, hỏng sẽ tiết ra chất độc gây dị ứng hoặc ngộ độc tuy nấu nướng khéo che đậy được mùi vị hư hỏng nhưng chất độc vẫn còn.
 Lưu ý thịt lợn có khả nǎng bị nhiễm giun xoắn mà không bị phát hiện, thịt ếch nhái hay bị sán nên phải ǎn chín. Riêng cóc trong da và trứng có chứa chất độc làm chết người nên khi ǎn cần loại bỏ triệt để da và phủ tạng.
 Không dùng thớt thái chung thịt chín và thịt sống.
 – Nước xương, nước thịt hầm, luộc có chứa nhiều ni tơ nhưng chất đạm và canxi rất ít. Nấu ǎn cho trẻ cần cho ǎn cả thịt (phần cái) chứ không phải chỉ có nước.
 2. Cá và các chế phẩm của cá:
 – Cá có hàm lượng chất đạm cao, chất lượng tốt và các acid amin cân đối, cá có nhiều chất khoáng và vitamin hơn thịt đặc biệt trong gan cá có nhiều vitamin A, D, B12 nhưng cá dễ bị hỏng hơn thịt.
 – Cá khô có hàm lượng chất đạm cao hơn cá tươi nhưng mặn và dễ bị ẩm, mốc. Chú ý cá khô mốc có thể gây nên ngộ độc.
 3. Tôm, lươn, cua và nhuyễn thể:
 – Tôm, lươn, cua có hàm lượng và chất lượng chất đạm không kém gì so với thịt, cá, còn chất lượng chất đạm của nhuyễn thể ( ốc, trai, sò…) thì không bằng và tỷ lệ các acid amin không cân đối. Tuy vậy nhuyễn thể lại có nhiều chất khoáng hơn, nhất là canxi, đồng(cu) và selen(se).
 – Khi nhuyễn thể bị chết dễ bị phân huỷ, sinh ra độc tố nên khi ǎn ốc, trai, sò…phải chú ý loại bỏ con chết, ngâm con sống sạch trước khi nấu. Nhuyễn thể còn là vật trung gian truyền các loại bệnh như thương hàn, tiêu chảy nên nhuyễn thể cần phải được ǎn chín.
 – Cua đồng, con dạm giã nấu canh, nấu bột, khi lọc có mất nhiều chất đạm nhưng là chất đạm hòa tan, dễ hấp thu và còn có thêm nhiều canxi.
 4. Trứng:
 Các loại trứng gà, vịt, trứng cua cáy, cá là nguồn cung cấp chất đạm tốt nhất vì có đầy đủ các acid min cần thiết với tỷ lệ cân đối. Trứng có thể nhiễm ký sinh trùng hoặc vi khuẩn gây bệnh. Không nên ǎn trứng sống, trứng hỏng vì có thể bị ngộ độc. Muốn luộc trứng lòng đào thì cho thẳng trứng vào nước nóng già rồi đun sôi vài phút, lòng trắng sẽ chín và lòng đỏ còn sống, các vitamin không bị nhiệt phá huỷ.
 Trứng vịt lộn chứa nhiều chất đạm và nội tiết tố kích thích chuyển hoá trong cơ thể người ǎn.
 5. Sữa:
 Sữa mẹ có đầy đủ chất đạm, chất béo, chất đường, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp, dễ hấp thu vì vậy sữa mẹ là thức ǎn tốt nhất cho trẻ em. Hiện nay ngoài thị trường có bán nhiều loại sữa bò, sữa đậu nành có nhiều chất bổ dưỡng cho trẻ em, người già, người ốm.
 Sữa là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển vì vậy cần phải bảo quản cẩn thận nhất là sau khi đã pha thành sữa nước. Khi sữa bị hỏng sẽ có mầu vàng nâu từ nhạt tới sẫm.
 6. Các loai nước chấm:
 Trong nước nắm, nước chấm như mai, sì dầu có chất đạm ở dạng tự do, hòa tan nên dễ hấp thu. Các loại nước nắm, nước chấm thường mặn nên ǎn ít.
 II. Thức ǎn thức vật
 1. Đậu đỗ:
 Đậu đỗ có hàm lượng chất đạm cao. Đậu tương có giá trị dinh dưỡng rất cao. Đạm đậu tương có giá trị như đạm động vật. Ngoài ra đậu tương còn chứa các chất có tác dụng phòng chống ung thư và giảm cholesterol máu.

món ăn

 Đậu đỗ cần ǎn chín, nên ngâm nước trước khi rang. Các sản phẩm từ đậu tương được dùng phổ biến như sữa đậu nành, đậu phụ, bột đậu nành hoặc dùng quá trình lên men để chế biến thành các sản phẩm như tương, chao, sữa chua đậu nành…để làm tǎng giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ hấp thu của thức ǎn. Nên sử dụng nhiều sản phẩm từ đậu nành vì là loại thực phẩm giầu chất dinh dưỡng và có tác dụng tốt cho sức khoẻ.
 2. Vừng, lạc:
 Hàm lượng chất đạm trong vừng, lạc cao nhưng chất lượng kém hơn đậu đỗ. Khi rang lạc không làm ảnh hưởng tới chất lượng chất đạm.
 Cần bảo quản tốt lạc để tránh mốc. Khi ǎn lạc cần loại bỏ các hạt mốc vì trong hạt lạc mốc có chứa độc tố vi nấm gây ung thư gan. Mỗi gia đình nên có một lọ muối vừng lạc để ǎn thường xuyên
 B. Thức ǎn cung cấp chất béo
 Thức ǎn giầu chất béo chủ yếu là mỡ động vật, trứng, sữa và các hạt có dầu như vừng, lạc, đậu tương.

1. Mỡ:

Thường dùng là mỡ lợn, bò, cừu. Mỡ thường chứa nhiều acid béo no ( hơn 50%).

2. Dầu thực vật:
 Thường dùng là dầu lạc, vừng, hướng dương, đậu nành… Dầu thực vật chứa nhiều acid béo không no, cần thiết phòng tránh bệnh tim mạch cho người cao tuổi và giúp phát triển tế bào não cho trẻ nhỏ.
 3. Bơ:
 Bơ là chất béo của sữa có chứa nhiều acid béo no. Bơ cung cấp nhiều vitamin A và D
 Chú ý:
 – Bảo quản dầu, mỡ và bơ nơi khô, mát tránh ánh sáng để giữ khỏi oxy hoá.
 – Dầu mỡ đun ở nhiệt độ cao, kéo dài bị phân huỷ tạo ra chất độc. Vì vậy không dùng dầu mỡ rán đi rán lại nhiều lần.
 C Thức ǎn cung cấp chất bột (Đường)
 1. Ngũ cốc: Các loại ngũ cốc (gạo, ngô, bột mỳ, kê, miến..) thường được dùng làm thức ǎn cơ bản ở các nước đang phát triển. Ngũ cốc khô chứa 70% chất bột trở lên, ngoài ra ngũ cốc còn chứa một phần chất đạm.
 a. Gạo:
 Chất lượng protid của gạo là tốt hơn cả rồi đến bột mỳ và cuối cùng là ngô. Lớp ngoài cùng của hạt và mầm hạt gạo đều chứa các chất dinh dưỡng quý như đạm, mỡ, canxi và vitamin nhóm B. Không nên xay xát gạo trắng quá làm mất chất dinh dưỡng. Khi nấu cơm cũng làm mất vitamin B1, vì vậy không vo gạo kỹ quá, nên dùng nước sôi và đậy vung khi thổi cơm.
 – Lưu ý bảo quản gạo, ngô, khoai, sắn ở nơi khô ráo để tránh bị mốc, khi thực phẩm bị mốc cần bỏ không dùng vì mốc sẽ tạo ra độc tố vi nấm, có hại cho sức khoẻ.
 b/ Bánh mỳ:
 Chất lượng bánh mỳ phụ thuộc vào độ chua, độ ẩm và xốp. Bánh xốp, vỏ mềm dễ tiêu hóa. Độ chua và độ ẩm cao làm giảm chất lượng bánh. Bánh sau khi sản xuất cần bảo quản khô sạch trong khi vận chuyển và tiêu thụ. Bị ẩm, bánh dễ bị mốc và lên men, nhiễm khuẩn làm ruột bánh trở nên mềm, dính, chảy và có mùi khó chịu. Không được ǎn bánh đã bị mốc hoặc bị nhiễm khuẩn.
 2. Khoai, sắn: Hàm lượng chất bột trong khoai sắn chỉ bằng 1/3 hàm lượng chất bột trong ngũ cốc. Hàm lượng chất đạm trong khoai sắn cũng ít nên ǎn khoai , sắn nhiều cần phải ǎn thêm nhiều chất đạm nhất là đối với trẻ em để phòng suy dinh dưỡng.
 Chú ý:
 – Không ǎn khoai tây đã mọc mầm vì chứa chất độc có thể gây chết người.
 – Sắn tươi có chứa chất độc nên không được ǎn sắn tươi sống, có thể gây chết người. Khi ǎn sắn tươi cần bóc bỏ vỏ, ngâm nước 12-24 giờ trước khi luộc, luộc xong cần mở vung cho bay hết hơi để loại chất độc.
 D Thức ǎn cung cấp chất khoáng và vitamin
 I. Thức ǎn cung cấp chất khoáng:
 Vai trò chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng như tham gia vào quá trình tạo tổ chức xương, tạo protit, duy trì cân bằng kiềm toan, tham gia chức phận nội tiết, điều hoà chuyển hóa nước trong cơ thể…
 Các chất khoáng gồm calci, magie, natri, ka li… được coi là các yếu tố kiềm. Nguồn gốc các chất khoáng này chứa nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật như rau quả, sữa và các chế phẩm của sữa. Các chất khoáng như lưu huỳnh, phospho, cho… là yếu tố toan, các chất khoáng này có nguồn gốc từ các thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng và nguồn thực vật như ngũ cốc, các loại bột.
 – Các thức ǎn thiên nhiên thường có ít calci do đó tỷ lệ CA/P thấp trừ sữa, nhuyễn thể, cá, tôm, cua…Với trẻ nhỏ, ngoài sữa cần cho ǎn thêm cua, cá, tôm khi nấu bột hay cháo.
 – Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, nhuyễn thể, đậu đỗ, vừng, lạc và có ít trong sữa, ngũ cốc.
 – Các yếu tố vi lượng như đồng, mangan, kẽm, iod, nhôm… có nhiều trong thịt, trứng, sữa, thủy sản.
 – Nên tǎng cường ǎn các loại cua, tôm, tép giã nhỏ nấu canh để có nhiều chất đạm và can xi, hoặc chế biến các loại cá nhỏ bằng cách nấu nhừ như các rô kho tương, kho nước nắm… để ǎn được cả thịt cá và xương cá, như vậy sẽ tận dụng được cả nguồn chất đạm và chất khoáng (Canxi) của cá.
 II. Thức ǎn cung cấp vitamin
 Rau tươi các loại cung cấp nhiều vitamin, chất khoáng và xơ, ngoài ra rau còn có chứa từ 1-2% chất đạm. Một số loại rau có chứa hàm lượng chất đạm cao như rau ngót (5,3%), rau muống (3,2%).
 1. Vitamin A:
 – Thức ǎn động vật như gan, trứng, cá là nguồn chủ yếu cung cấp vitamin A.
 – Các loại rau có lá xanh thẫm ( rau ngót, rau đay, rau dền, rau muống, rau khoai lang, kinh giới, xương sông, lá lết, rau thơm, cà rết… các loại quả mầu vàng, da cam (gấc, đu đủ chín, hồng, xoài, mít, dứa…) là thức ǎn có nhiều b -caroten (Tiền vitamin A).
 2/ Vitamin nhóm B có chứa nhiều trong thức ǎn động vật như thịt, thức ǎn thực vật như đậu đỗ, cám gạo… Vitamin B dễ bị hòa tan trong nước, bị phân huỷ bởi nhiệt nên bị mất trong quá trình chế biến.
 3/ Vitamin C:
 Rau quả tươi là thức ǎn chủ yếu cung cấp vitamin C như rau cải, rau muống, rau ngót, rau mồng tơi, các loại rau thơm…Vitamin C dễ hòa tan trong nước, dễ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao vì vậy cần chú ý khi rửa và nấu nướng. Nên rửa rau cả lá to rồi mới thái, cho vào nấu khi nước đã sôi và ǎn ngay sau khi chín sẽ giảm được tỷ lệ mất vitamin C.

* Chú ý vệ sinh khi sử dụng rau: Rau cần được ngâm, rửa nhiều lần bằng nước sạch trước khi chế biến để tránh thuốc trừ sâu, các hóa chất và các nguồn gây bệnh khác.

 G. Một số thức uống:
 1. Chè:
 Là một thức uống có giá trị dinh dưỡng vì có chứa tanin, cafein, tinh dầu, các vitamin, chất đạm và các chất khoáng. Thành phần cơ bản của chè là Tanin nên chè có vị chát và có tác dụng tốt cho tiêu hóa.
 Uống chè có tác dụng kích thích hưng phấn hệ thần kinh trung ương, hoạt động hệ tim mạch, chức phận thận và ống tiêu hóa. Không nên dùng chè đặc trước khi đi ngủ vì làm mất ngủ. Nên uống nước chè tươi vì vừa mát, vệ sinh và có chất dinh dưỡng.
 2. Càphê:
 Càphê có chứa cafein, chất đạm, chất béo và chất khoáng… Càphê có tác dụng kích thích hoạt động hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch. Đối với người bị bệnh tǎng huyết áp, tim mạch… không nên sử dụng càphê.
 3. Rượu bia:
 Độ cồn trong bia chứa 3-6%, trong rượu nếp 5%, rượu trắng và rượu màu có độ cồn cao 39%. Uống rượu thường xuyên có hại tới thận, gan, dạ dầy và nhiều cơ quan khác. Người nghiện rượu sức đề kháng kém đối với bệnh nhiễm khuẩn và bệnh thường tiến triển nặng. Người nghiện rượu khả nǎng lao động giảm sút và ảnh hường xấu tới thế hệ sau, làm ảnh hưởng tới trí tuệ của con cái. Ngoài ra uống rượu còn gây nhiêu tai nạn trong lao động, tai nạn giao thông, đánh nhau… Trẻ em và phụ nữ có thai không nên uống rượu. Hàng ngày sau giờ làm việc, trong bữa cơm chiều có thể dùng ít rượu nhấm nháp cho vui và kích thích ǎn uống, nhưng không uống nhiều và tránh nghiện rượu.
 4. Nước khoáng
 – Nước khoáng tự nhiên lấy từ các mạch nước ngầm sâu, đó là các dung dịch muối có chứa nhiều chất khoáng, có loại nước khoáng tự nhiên có tính phóng xạ thường dùng để chữa bệnh, giải khát.
 – Nước khoáng nhân tạo: Được sản xuất bằng cách bão hòa nước ǎn với khí Co 2 và một số muối khoáng.
 – Giá thành của nước khoáng đắt khoảng 4000-5000đ/1 chai nên ở thị trường có nước khoáng giả không bảo đảm vệ sinh. Hiện nay ở nhiều nơi sử dụng quá nhiều nước khoáng, nhất là trong các cuộc họp như vậy là không cần thiết tại các cơ quan, hội nghị chúng ta nên sử dụng nước đun sôi để nguội, nước chè xanh hoặc nước vối, vừa bảo đảm vệ sinh vừa tiết kiệm.
 5. Nước quả tự nhiên:
 Là nước quả tươi cho thêm nước và đường , như nước cam, chanh, dưa hấu,dứa…Nước quả tươi có tác dụng tốt đối với sức khoẻ vì chứa nhiều vitamin và chất khoáng, nên uống nước quả tươi, nhất là vào mùa hè.
 6. Các loại nước quả và nước giải khát có ga
 Là các loại nước sản xuất từ tinh dầu hoa quả, các chất mầu với khí CO2 hoà tan trong nước. Chú ý không dùng nước ngọt có ga khi bị tiêu chảy. Không nên cho trẻ em dùng nhiều nước ngọt có ga như Coca-cola, Pepsi, Fantal…vì sẽ gây cho trẻ ngang dạ và biếng ǎn.

Theo Cimsi